Skip to content

Phẩm về Sumanā

AN 5.31 Kinh Sumanā

Một thời Đức Phật trú gần Sāvatthī, tại Rừng Jeta, tu viện của ông Anāthapiṇḍika. Khi ấy, Công chúa Sumanā, cùng với năm trăm cỗ xe và năm trăm cung nữ, đi đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ Ngài, ngồi xuống một bên và bạch rằng:

"Bạch Thế Tôn, giả sử có hai vị đệ tử có niềm tin (faith / niềm tin), đạo đức, và trí tuệ (wisdom / trí tuệ) ngang bằng nhau. Một người là người bố thí, một người thì không. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sinh vào cõi lành, cõi trời. Khi đã trở thành chư thiên, liệu có sự khác biệt hay phân biệt nào giữa họ không?"

"Có sự khác biệt đó, Sumanā," Đức Phật dạy.

"Khi là một vị trời, người đã từng bố thí vượt trội hơn người kia về năm phương diện: tuổi thọ cõi trời, sắc đẹp, hạnh phúc (happiness / hạnh phúc), uy danh, và quyền lực. Khi là một vị trời, người đã từng bố thí vượt trội hơn người kia về năm phương diện này."

"Nhưng bạch Thế Tôn, nếu họ từ cõi đó mệnh chung và trở lại làm người ở đây, liệu vẫn còn sự khác biệt hay phân biệt nào giữa họ không?"

"Vẫn có sự khác biệt đó, Sumanā," Đức Phật dạy.

"Khi là một con người, người đã từng bố thí vượt trội hơn người kia về năm phương diện: tuổi thọ loài người, sắc đẹp, hạnh phúc, uy danh, và quyền lực. Khi là một con người, người đã từng bố thí vượt trội hơn người kia về năm phương diện này."

"Nhưng bạch Thế Tôn, nếu cả hai cùng xuất gia, từ bỏ đời sống tại gia, liệu vẫn còn sự khác biệt hay phân biệt nào giữa họ không?"

"Vẫn có sự khác biệt đó, Sumanā," Đức Phật dạy.

"Khi là một người xuất gia, người đã từng bố thí vượt trội hơn người kia về năm phương diện. Vị ấy thường chỉ dùng những thứ được mời nhận—y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, và dược phẩm trị bệnh—hiếm khi dùng những thứ không được mời. Khi sống chung với các vị tu hành khác, vị ấy thường được họ đối xử dễ chịu về thân, khẩu, ý, và hiếm khi bị đối xử khó chịu. Và vị ấy thường được họ dâng tặng những vật dễ chịu, hiếm khi là những vật khó chịu. Khi là một người xuất gia, người đã từng bố thí vượt trội hơn người kia về năm phương diện này."

"Nhưng bạch Thế Tôn, nếu cả hai cùng chứng đắc quả vị A-la-hán, khi đã là bậc A-la-hán, liệu vẫn còn sự khác biệt hay phân biệt nào giữa họ không?"

"Trong trường hợp đó, Ta nói rằng không có sự khác biệt nào giữa sự giải thoát (freedom / sự giải thoát) của người này và sự giải thoát của người kia."

"Thật vi diệu, bạch Thế Tôn, thật đáng kinh ngạc! Điều này quả thực đủ để khuyến khích việc bố thí và tạo phước báu (merit / công đức, việc tốt lành). Vì phước báu hữu ích cho những ai đã trở thành chư thiên, con người, và người xuất gia."

"Đúng vậy, Sumanā. Điều này quả thực đủ để khuyến khích việc bố thí và tạo phước báu. Vì phước báu hữu ích cho những ai đã trở thành chư thiên, con người, và người xuất gia."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Rồi Bậc Thánh, Bậc Đạo Sư, nói tiếp:

"Mặt trăng thanh tịnh,
du hành qua không gian;
tỏa sáng hào quang
vượt trên các vì sao thế gian.

Cũng vậy, người có niềm tin,
viên mãn về đạo đức,
vượt trội bằng lòng rộng rãi
hơn mọi kẻ keo kiệt thế gian.

Đám mây mưa sấm sét,
trăm đỉnh quấn quanh tia chớp,
đổ mưa xuống mảnh đất màu mỡ,
thấm đẫm cao nguyên và thung lũng.

Cũng vậy, người trí tuệ thấy rõ,
đệ tử của Phật toàn giác,
vượt trội hơn người keo kiệt\com về năm phương diện:

Trường thọ và danh tiếng,
sắc đẹp và hạnh phúc.
Giàu sang phú quý,
họ mệnh chung vui hưởng cõi trời."

AN 5.32 Kinh Cundī

Một thời Đức Phật trú gần Rājagaha, tại Trúc Lâm, nơi các con sóc được cho ăn. Khi ấy, Công chúa Cundī, cùng với năm trăm cỗ xe và năm trăm cung nữ, đi đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ Ngài, ngồi xuống một bên và bạch rằng:

"Bạch Thế Tôn, anh trai của con, Hoàng tử Cunda, nói thế này: 'Hãy lấy một người nữ hay người nam quy y (goes for refuge / nương tựa) Phật, Pháp, và Tăng đoàn (Saṅgha / cộng đồng tu sĩ), không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không uống rượu và các chất gây say. Chỉ khi đó, họ mới được tái sinh vào cõi lành, không phải cõi dữ, khi thân hoại mạng chung.' Vì vậy, con xin hỏi Đức Phật: Bạch Thế Tôn, nên đặt niềm tin vào bậc đạo sư như thế nào để được tái sinh vào cõi lành, không phải cõi dữ, khi thân hoại mạng chung? Bạch Thế Tôn, nên đặt niềm tin vào giáo pháp như thế nào để được tái sinh vào cõi lành, không phải cõi dữ, khi thân hoại mạng chung? Bạch Thế Tôn, nên đặt niềm tin vào Tăng đoàn như thế nào để được tái sinh vào cõi lành, không phải cõi dữ, khi thân hoại mạng chung? Bạch Thế Tôn, nên hoàn thiện đạo đức như thế nào để được tái sinh vào cõi lành, không phải cõi dữ, khi thân hoại mạng chung?"

"Cundī, bậc Như Lai (Realized One / Bậc đã chứng ngộ sự thật), bậc A-la-hán (perfected one / Bậc đã hoàn thiện), bậc Phật Chánh Đẳng Giác (fully awakened Buddha / Bậc tự mình giác ngộ hoàn toàn), được xem là tối thượng trong tất cả chúng sinh (sentient beings / các loài hữu tình)—dù không chân, hai chân, bốn chân, hay nhiều chân; dù có sắc hay không sắc; dù có tưởng hay không tưởng hay phi tưởng phi phi tưởng. Những ai có niềm tin vào Đức Phật là có niềm tin vào bậc tối thượng. Có niềm tin vào bậc tối thượng, kết quả là tối thượng.

Bát Chánh Đạo (noble eightfold path / con đường tám nhánh cao thượng) được xem là tối thượng trong tất cả pháp hữu vi (conditioned things / các pháp được tạo tác bởi nhân duyên). Những ai có niềm tin vào Bát Chánh Đạo là có niềm tin vào pháp tối thượng. Có niềm tin vào pháp tối thượng, kết quả là tối thượng.

Ly tham (Fading away / sự phai nhạt tham ái) được xem là tối thượng trong tất cả các pháp, dù là hữu vi hay pháp vô vi (unconditioned / pháp không được tạo tác bởi nhân duyên). Đó là sự nhiếp phục kiêu mạn, sự trừ bỏ khát ái, sự nhổ tận gốc chấp thủ, sự phá vỡ vòng luân hồi, sự đoạn tận tham ái, sự ly tham, sự tịch diệt (cessation / sự chấm dứt khổ đau), Niết-bàn (extinguishment / sự dập tắt hoàn toàn phiền não và khổ đau). Những ai có niềm tin vào giáo pháp ly tham là có niềm tin vào pháp tối thượng. Có niềm tin vào pháp tối thượng, kết quả là tối thượng.

Tăng đoàn đệ tử của Như Lai được xem là tối thượng trong tất cả các cộng đồng và đoàn thể. Tăng đoàn này bao gồm bốn đôi, tám chúng. Đây là Tăng đoàn đệ tử của Đức Phật, đáng được cúng dường, đáng được đón tiếp, đáng được bố thí, đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng (supreme field of merit / nơi gieo trồng phước báu tốt nhất) cho thế gian. Những ai có niềm tin vào Tăng đoàn là có niềm tin vào đoàn thể tối thượng. Có niềm tin vào đoàn thể tối thượng, kết quả là tối thượng.

Giới hạnh được bậc Thánh yêu quý được xem là tối thượng trong tất cả các giới hạnh. Giới hạnh ấy không bị bể vụn, không tì vết, không vết nhơ, không ô nhiễm, đem lại giải thoát, được người trí tán thán, không sai lạc, và đưa đến thiền định (immersion / sự tập trung tâm ý). Những ai hoàn thiện giới hạnh được bậc Thánh yêu quý là hoàn thiện giới hạnh tối thượng. Hoàn thiện giới hạnh tối thượng, kết quả là tối thượng.

Đối với những người, biết giáo pháp tối thượng,
đặt niềm tin vào điều tối thượng---
tin vào Đức Phật tối thượng,
xứng đáng nhận cúng dường bậc nhất;

tin vào giáo pháp tối thượng,
niềm an lạc của ly tham và tịch tịnh;
tin vào Tăng đoàn tối thượng,
ruộng phước vô thượng---

bố thí đến bậc tối thượng,
phước báu tối thượng tăng trưởng:
tuổi thọ, sắc đẹp tối thượng,
danh tiếng, uy tín, hạnh phúc, và sức mạnh.

Người trí tuệ bố thí đến bậc tối thượng,
an trú trong giáo pháp tối thượng.
Khi trở thành trời hay người,
họ vui mừng đạt đến điều tối thượng."

AN 5.33 Kinh Uggaha

Một thời Đức Phật trú gần Bhaddiya, tại rừng Jātiyā.

Khi ấy, Uggaha, cháu của Meṇḍaka, đi đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ Ngài, ngồi xuống một bên và bạch rằng: "Bạch Thế Tôn, xin Thế Tôn nhận lời mời dùng bữa vào ngày mai tại nhà con, cùng với ba vị tỳ kheo (monks / tu sĩ nam Phật giáo) khác." Đức Phật im lặng nhận lời. Sau đó, biết Đức Phật đã nhận lời, Uggaha từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ và đi quanh Đức Phật theo chiều bên phải trước khi rời đi.

Rồi khi đêm đã qua, vào buổi sáng, Đức Phật đắp y, mang y bát, đi đến nhà của Uggaha, và ngồi vào chỗ đã soạn sẵn. Sau đó, Uggaha tự tay dâng cúng và làm hài lòng Đức Phật với các món vật thực tươi và chín ngon lành.

Khi Đức Phật đã dùng xong và rửa tay và bát, Uggaha ngồi xuống một bên và bạch rằng: "Bạch Thế Tôn, những cô con gái này của con sắp về nhà chồng. Xin Thế Tôn hãy khuyên dạy và chỉ bảo chúng. Điều đó sẽ mang lại lợi ích và hạnh phúc lâu dài cho chúng."

Rồi Đức Phật nói với những cô gái ấy:

"Này các cô gái, các con nên rèn luyện như thế này: 'Cha mẹ chúng ta sẽ gả chúng ta cho một người chồng, vì mong muốn điều tốt đẹp nhất cho chúng ta, vì lòng tốt và sự cảm thông. Chúng ta sẽ thức dậy trước chồng và đi ngủ sau chồng, luôn sẵn lòng phục vụ, cư xử tốt đẹp và nói năng lịch sự.' Đó là cách các con nên rèn luyện.

Này các cô gái, các con nên rèn luyện như thế này: 'Những người mà chồng chúng ta kính trọng—cha mẹ, sa môn và bà la môn (ascetics and brahmins / người tu khổ hạnh và tu sĩ Bà la môn giáo)—chúng ta sẽ kính trọng, tôn kính, quý trọng, và đảnh lễ, và phục vụ chỗ ngồi và nước uống khi họ đến như khách.' Đó là cách các con nên rèn luyện.

Này các cô gái, các con nên rèn luyện như thế này: 'Chúng ta sẽ khéo léo và không mệt mỏi trong việc nhà cho chồng, như việc len sợi, may vá. Chúng ta sẽ hiểu biết cách thức thực hiện công việc để hoàn thành và sắp xếp mọi thứ.' Đó là cách các con nên rèn luyện.

Này các cô gái, các con nên rèn luyện như thế này: 'Chúng ta sẽ biết công việc nào mà những người hầu, người làm công, người lao động trong nhà chồng đã hoàn thành, và việc nào họ chưa làm xong. Chúng ta sẽ biết ai bị bệnh, ai khỏe mạnh hay yếu ớt. Chúng ta sẽ chia cho mỗi người một phần vật thực tươi và chín công bằng.' Đó là cách các con nên rèn luyện.

Này các cô gái, các con nên rèn luyện như thế này: 'Chúng ta sẽ đảm bảo rằng mọi thu nhập mà chồng kiếm được đều được giữ gìn và bảo vệ, dù là tiền bạc, ngũ cốc, bạc, hay vàng. Chúng ta sẽ không tiêu xài hoang phí, trộm cắp, lãng phí, hay làm mất mát.' Đó là cách các con nên rèn luyện. Khi có năm phẩm chất này, người nữ—khi thân hoại mạng chung, sau khi chết—được tái sinh cùng với Chư thiên Manāpakāyika (Gods of the Agreeable Host / các vị trời thuộc nhóm Thân Khả Ái).

Nàng không bao giờ coi thường chồng,
người luôn siêng năng làm việc,
luôn chăm sóc nàng,
và mang đến mọi thứ nàng muốn.

Và người phụ nữ tốt không bao giờ trách mắng chồng
bằng lời lẽ ghen tuông.
Là người khôn khéo, nàng tôn kính
những người được chồng kính trọng.

Nàng dậy sớm, làm việc không mệt mỏi,
và quản lý người giúp việc.
Nàng làm hài lòng chồng,
và giữ gìn tài sản của chồng.

Người phụ nữ hoàn thành những bổn phận này
theo ý muốn của chồng,
được tái sinh giữa các vị trời
gọi là 'Thân Khả Ái'."

AN 5.34 Kinh Tướng Quân Sīha

Một thời Đức Phật trú gần Vesālī, tại Đại Lâm, trong ngôi nhà có mái nhọn.

Khi ấy, Tướng quân Sīha đi đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ Ngài, ngồi xuống một bên và hỏi: "Bạch Thế Tôn, Ngài có thể chỉ ra quả của sự bố thí hiện hữu trong đời này không?"

"Ta có thể, Sīha," Đức Phật dạy.

"Người bố thí, người thí chủ thì được nhiều người yêu mến và quý trọng. Đây là quả của sự bố thí hiện hữu trong đời này.

Hơn nữa, người thiện, bậc chân nhân thường thân cận với người bố thí. Đây là một quả khác của sự bố thí hiện hữu trong đời này.

Hơn nữa, người bố thí có được tiếng tốt đồn xa. Đây là một quả khác của sự bố thí hiện hữu trong đời này.

Hơn nữa, người bố thí đi vào bất kỳ hội chúng nào cũng mạnh dạn và tự tin, dù đó là hội chúng Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, gia chủ, hay Sa-môn. Đây là một quả khác của sự bố thí hiện hữu trong đời này.

Hơn nữa, khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, người bố thí được tái sinh vào cõi lành, cõi trời. Đây là quả của sự bố thí liên quan đến các đời sau."

Khi Ngài nói vậy, Tướng quân Sīha bạch với Đức Phật: "Đối với bốn quả của sự bố thí hiện hữu trong đời này, con không cần phải dựa vào niềm tin nơi Đức Phật, vì con cũng biết chúng. Con là người bố thí, người thí chủ, và được nhiều người yêu mến và quý trọng. Con là người bố thí, và người thiện, bậc chân nhân thân cận với con. Con là người bố thí, và con có tiếng tốt này: 'Tướng quân Sīha bố thí, phục vụ, và hộ trì Tăng đoàn.' Con là người bố thí, và con đi vào bất kỳ hội chúng nào cũng mạnh dạn và tự tin, dù đó là hội chúng Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, gia chủ, hay Sa-môn. Đối với bốn quả của sự bố thí hiện hữu trong đời này, con không cần phải dựa vào niềm tin nơi Đức Phật, vì con cũng biết chúng. Nhưng khi Đức Phật nói: 'Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, người bố thí được tái sinh vào cõi lành, cõi trời.' Điều này con không biết, nên con phải dựa vào niềm tin nơi Đức Phật."

"Đúng vậy, Sīha! Đúng vậy! Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, người bố thí được tái sinh vào cõi lành, cõi trời.

Bố thí, bạn được nhiều người yêu mến và kết thân.
Bạn có tiếng tốt, và danh tiếng lan xa.
Người rộng rãi đi vào hội chúng
mạnh dạn và tự tin.

Vì vậy, người trí tuệ, tìm cầu hạnh phúc,
sẽ thực hành bố thí,
đã trừ sạch vết nhơ keo kiệt (stinginess / sự bủn xỉn, không muốn chia sẻ).
Họ sống lâu trên cõi trời Ba Mươi Ba,
vui hưởng cùng chư thiên.

Đã nắm bắt cơ hội làm điều thiện,
khi họ từ đây mệnh chung
họ rạng ngời dạo chơi trong vườn Nandana.
Ở đó họ vui thích, hoan hỷ, và tận hưởng,
được cung cấp năm loại dục lạc (sensual stimulation / niềm vui thú qua năm giác quan).
Đã thực hành lời dạy của bậc không chấp thủ, không phiền não,
đệ tử của Bậc Thánh vui hưởng trên cõi trời."

AN 5.35 Lợi Ích Của Việc Bố Thí

"Này các Tỳ kheo, có năm lợi ích của việc bố thí. Năm lợi ích đó là gì? Người bố thí, người thí chủ được nhiều người yêu mến và quý trọng. Người thiện, bậc chân nhân thân cận với họ. Họ có tiếng tốt đồn xa. Họ không xao lãng bổn phận của người tại gia. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sinh vào cõi lành, cõi trời. Đây là năm lợi ích của việc bố thí.

Bố thí, người được yêu mến,
và đi theo con đường của người thiện.
Người thiện, người tu hành có giới luật
luôn thân cận với bạn.

Họ giảng cho bạn Pháp
tiêu trừ mọi khổ đau.
Hiểu được giáo pháp này,
bậc vô lậu hoàn toàn tịch diệt."

AN 5.36 Bố Thí Đúng Thời

"Này các Tỳ kheo, có năm loại bố thí đúng thời này. Năm loại đó là gì? Bố thí cho khách đến thăm. Bố thí cho người chuẩn bị đi xa. Bố thí cho người bệnh. Bố thí vào thời đói kém. Dâng cúng lúa gạo và hoa quả mới thu hoạch trước tiên cho những người có đạo đức. Đây là năm loại bố thí đúng thời.

Người trí bố thí đúng thời,
là người rộng rãi và thoát khỏi keo kiệt.
Sự cúng dường đúng thời
đến các bậc Thánh, chân thật và không phiền não,

được thực hiện với tâm trong sạch và tin tưởng,
quả thực là dồi dào.
Những ai hoan hỷ với việc đó,
hay làm các công việc phục vụ khác,
không bỏ lỡ phần cúng dường;
họ cũng được chia phần phước báu.

Vì vậy, bạn nên bố thí không do dự,
nơi mà sự bố thí mang lại quả lớn.
Việc lành của chúng sinh
nâng đỡ họ trong đời sau."

AN 5.37 Vật Thực

"Này các Tỳ kheo, khi người bố thí vật thực, họ cho người nhận năm điều. Năm điều đó là gì? Tuổi thọ, sắc đẹp, hạnh phúc, sức mạnh, và tài hùng biện (eloquence / khả năng nói hay).

Cho tuổi thọ, họ có tuổi thọ dài lâu khi là trời hay người.

Cho sắc đẹp, họ có sắc đẹp khi là trời hay người.

Cho hạnh phúc, họ có hạnh phúc khi là trời hay người.

Cho sức mạnh, họ có sức mạnh khi là trời hay người.

Cho tài hùng biện, họ có tài hùng biện khi là trời hay người.

Khi người bố thí vật thực, họ cho người nhận năm điều này.

Chú tâm, người bố thí là người cho sự sống, sức mạnh,
sắc đẹp, và tài hùng biện.
Người trí tuệ bố thí hạnh phúc
sẽ nhận lại hạnh phúc.

Cho sự sống, sức mạnh, sắc đẹp,
hạnh phúc, và tài hùng biện,
họ sống lâu và nổi tiếng
bất cứ nơi nào họ tái sinh."

AN 5.38 Niềm Tin

"Này các Tỳ kheo, người nam cư sĩ có niềm tin nhận được năm lợi ích. Năm lợi ích đó là gì? Các bậc chân nhân trên thế gian trước hết thể hiện lòng thương cảm với người có niềm tin, không nhiều bằng với người không có niềm tin. Họ trước hết đến gần người có niềm tin, không nhiều bằng với người không có niềm tin. Họ trước hết nhận vật thực cúng dường từ người có niềm tin, không nhiều bằng từ người không có niềm tin. Họ trước hết giảng Pháp cho người có niềm tin, không nhiều bằng cho người không có niềm tin. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, người có niềm tin được tái sinh vào cõi lành, cõi trời. Người nam cư sĩ có niềm tin nhận được năm lợi ích này.

Giả sử có một cây đa lớn ở một ngã tư đường bằng phẳng. Nó sẽ trở thành nơi nương tựa cho các loài chim từ khắp nơi. Cũng vậy, người nam cư sĩ có niềm tin trở thành nơi nương tựa cho nhiều người—tỳ kheo, tỳ kheo ni, nữ cư sĩ, và nam cư sĩ.

Với cành, lá, và quả,
một cây lớn với thân vững chắc,
gốc rễ bám sâu và sai quả,
nuôi dưỡng nhiều loài chim.

Đó là một nơi đáng yêu,
được các loài bay lượn thường lui tới.
Những loài cần bóng mát vào trong bóng mát,
những loài cần quả thưởng thức quả.

Cũng vậy, một người có niềm tin
viên mãn về đạo đức,
khiêm tốn và dễ gần,
ngọt ngào, lịch sự, và dịu dàng.

Những người không tham lam, không tức giận,
không si mê, không còn ô nhiễm,
là ruộng phước cho thế gian,
thân cận với người như vậy.

Họ giảng Pháp cho người ấy,
Pháp tiêu trừ mọi khổ đau.
Hiểu được giáo pháp này,
bậc vô lậu hoàn toàn tịch diệt."

AN 5.39 Người Con

"Này các Tỳ kheo, cha mẹ thấy năm lý do để mong muốn có con sinh ra trong gia đình. Năm lý do đó là gì? Vì chúng ta đã chăm sóc chúng, chúng sẽ chăm sóc lại chúng ta. Chúng sẽ làm tròn bổn phận đối với chúng ta. Truyền thống gia đình sẽ được duy trì. Chúng sẽ trông coi tài sản thừa kế. Hoặc khi chúng ta đã qua đời, chúng sẽ cúng dường hồi hướng cho chúng ta. Cha mẹ thấy năm lý do này để mong muốn có con sinh ra trong gia đình.

Thấy năm lý do,
người trí mong muốn có con.
Vì ta chăm sóc chúng, chúng sẽ chăm sóc ta.
Chúng sẽ làm tròn bổn phận cho ta.

Truyền thống gia đình sẽ được duy trì.
Chúng sẽ trông coi tài sản thừa kế.
Hoặc khi ta đã qua đời
chúng sẽ cúng dường hồi hướng cho ta.

Thấy năm lý do này
người trí mong muốn có con.
Và vì vậy, bậc chân nhân,
biết ơn và nhớ ơn,

chăm sóc cha mẹ mình,
nhớ đến những việc làm trong quá khứ.
Họ làm cho cha mẹ,
như cha mẹ đã làm cho họ trong quá khứ.

Vâng lời cha mẹ dạy bảo,
nuôi dưỡng người đã nuôi mình,
truyền thống gia đình không bị mất.
Có niềm tin, thành tựu đạo đức,
người con như vậy đáng được khen ngợi."

AN 5.40 Cây Sa-la Lớn

"Này các Tỳ kheo, cây Sa-la lớn tăng trưởng theo năm cách nhờ nương tựa vào dãy Hy-mã-lạp sơn, vua của các loài núi. Năm cách đó là gì? Cành, lá, và tán lá; vỏ cây; chồi non; giác cây (softwood / phần gỗ mềm); và lõi cây (hardwood / phần gỗ cứng). Cây Sa-la lớn tăng trưởng theo năm cách này nhờ nương tựa vào dãy Hy-mã-lạp sơn, vua của các loài núi.

Cũng vậy, một gia đình tăng trưởng theo năm cách nhờ nương tựa vào người chủ gia đình có niềm tin. Năm cách đó là gì? Niềm tin, đạo đức, học hỏi (learning / sự hiểu biết giáo pháp), cho đi, và trí tuệ. Một gia đình tăng trưởng theo năm cách này nhờ nương tựa vào người chủ gia đình có niềm tin.

Nương tựa vào vách núi
trong nơi hoang dã, khu rừng hiểm trở,
cây lớn lên
trở thành chúa tể rừng xanh.

Cũng vậy, khi người chủ gia đình
có đạo đức và niềm tin,
nương tựa vào họ, chúng tăng trưởng:
con cái, vợ/chồng, và bà con,
bạn bè, người cộng sự, thân quyến,
và những người sống nương nhờ.

Thấy đạo đức của người đức hạnh,
lòng rộng rãi và việc lành,
những người thấy rõ
làm theo như vậy.

Đã thực hành Pháp ở đây,
con đường dẫn đến cõi lành,
họ vui hưởng trong cõi trời,
hưởng thụ mọi lạc thú mong muốn."