Skip to content

Phẩm về trói buộc

AN 5.51 Chướng Ngại Āvaraṇasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật trú gần Sāvatthī, tại Kỳ Viên, tịnh xá ông Anāthapiṇḍika. Tại đó, Đức Phật gọi các Tỷ-kheo: "Này các Tỷ-kheo!"

"Bạch Thế Tôn," các vị ấy vâng đáp. Đức Phật dạy như sau:

"Này các Tỷ-kheo, có năm trói buộc (obstacles and hindrances / triền cái / những thứ che lấp tâm trí) và chướng ngại này, là sự che mờ và ô nhiễm của tâm, làm trí tuệ yếu ớt (parasites of the mind that weaken wisdom / những thứ làm ô nhiễm tâm, làm trí tuệ suy yếu). Năm loại ấy là gì? Dục tham (sensual desire / ham muốn dục lạc)... Tức giận (ill will / tức giận)... Uể oải sao nhãng và buồn ngủ (dullness and drowsiness / sự buồn ngủ và tâm trí lờ đờ)... Bồn chồn lo lắng và hối hận (restlessness and remorse / bồn chồn và hối hận)... Nghi (doubt / sự nghi ngờ)... Đây là năm trói buộc và chướng ngại, là sự che mờ và ô nhiễm của tâm, làm trí tuệ yếu ớt.

Hãy xem một vị Tỷ-kheo có trí tuệ yếu ớt và suy nhược, chưa từ bỏ năm trói buộc và chướng ngại này, là sự che mờ và ô nhiễm của tâm, làm trí tuệ yếu ớt. Không thể nào vị ấy biết được lợi ích của mình, lợi ích của người, hay lợi ích của cả hai; hay chứng ngộ được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh.

Ví như có một dòng sông trên núi chảy xiết, đi xa, cuốn trôi mọi thứ. Nhưng rồi một người mở các kênh dẫn nước ở hai bên bờ, khiến dòng chảy giữa sông bị phân tán, chuyển hướng và chia cắt. Dòng sông sẽ không còn chảy xiết, đi xa, cuốn trôi mọi thứ nữa.

Cũng vậy, hãy xem một vị Tỷ-kheo có trí tuệ yếu ớt và suy nhược, chưa từ bỏ năm trói buộc và chướng ngại này, là sự che mờ và ô nhiễm của tâm, làm trí tuệ yếu ớt. Không thể nào vị ấy biết được lợi ích của mình, lợi ích của người, hay lợi ích của cả hai; hay chứng ngộ được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh.

Hãy xem một vị Tỷ-kheo có trí tuệ mạnh mẽ, đã từ bỏ năm trói buộc và chướng ngại này, là sự che mờ và ô nhiễm của tâm, làm trí tuệ yếu ớt. Hoàn toàn có thể vị ấy biết được lợi ích của mình, lợi ích của người, hay lợi ích của cả hai; hay chứng ngộ được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh.

Ví như có một dòng sông trên núi chảy xiết, đi xa, cuốn trôi mọi thứ. Nhưng rồi một người đóng các kênh dẫn nước ở hai bên bờ, khiến dòng chảy giữa sông không bị phân tán, chuyển hướng và chia cắt. Dòng sông sẽ tiếp tục chảy xiết đi xa, cuốn trôi mọi thứ.

Cũng vậy, hãy xem một vị Tỷ-kheo có trí tuệ mạnh mẽ, đã từ bỏ năm trói buộc và chướng ngại này, là sự che mờ và ô nhiễm của tâm, làm trí tuệ yếu ớt. Hoàn toàn có thể vị ấy biết được lợi ích của mình, lợi ích của người, hay lợi ích của cả hai; hay chứng ngộ được pháp thượng nhân, tri kiến thù thắng xứng đáng bậc Thánh."

AN 5.52 Đống Bất Thiện Akusalarāsisutta

"Này các Tỷ-kheo, nếu nói một cách đúng đắn, người ta gọi năm trói buộc là một 'đống bất thiện' (heap of the unskillful / tập hợp những điều xấu ác). Vì năm trói buộc này hoàn toàn là một đống bất thiện. Năm loại ấy là gì? trói buộc dục tham, tức giận, uể oải sao nhãng và buồn ngủ, bồn chồn lo lắng và hối hận, và nghi. Nếu nói một cách đúng đắn, người ta gọi năm trói buộc này là một 'đống bất thiện'. Vì năm trói buộc này hoàn toàn là một đống bất thiện."

AN 5.53 Các Yếu Tố Hỗ Trợ Tinh Cần Padhāniyaṅgasutta

"Này các Tỷ-kheo, có năm chi phần hỗ trợ tinh cần (factors that support meditation / yếu tố giúp nỗ lực tu tập) này. Năm loại ấy là gì?

Đó là khi một vị Tỷ-kheo có niềm tin vào sự giác ngộ của Như Lai: 'Đức Thế Tôn đó là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.'

Vị ấy ít bệnh, ít não. Bộ tiêu hóa hoạt động tốt, không quá nóng không quá lạnh, quân bình, thích hợp cho sự tinh cần.

Vị ấy không xảo trá, lừa lọc. Vị ấy thể hiện mình một cách chân thật với Bậc Đạo Sư hay các vị đồng tu có trí.

Vị ấy sống siêng năng nỗ lực từ bỏ các pháp bất thiện, vun bồi các pháp thiện. Vị ấy mạnh mẽ, kiên trì, không lười biếng trong việc phát triển các pháp thiện.

Vị ấy có trí tuệ. Vị ấy có trí tuệ về sự sinh diệt, là trí tuệ bậc Thánh, có khả năng thâm nhập, đưa đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau.

Đó là năm chi phần hỗ trợ tinh cần."

AN 5.54 Thời Điểm Thích Hợp Cho Tinh Cần Samayasutta

"Này các Tỷ-kheo, có năm thời điểm không thích hợp cho sự tinh cần. Năm loại ấy là gì?

Thứ nhất, một vị Tỷ-kheo già yếu, bị tuổi già chi phối. Đây là thời điểm thứ nhất không thích hợp cho sự tinh cần.

Lại nữa, một vị Tỷ-kheo bệnh tật, bị bệnh tật chi phối. Đây là thời điểm thứ hai không thích hợp cho sự tinh cần.

Lại nữa, có nạn đói, mất mùa, khó kiếm vật thực khất thực, không dễ duy trì đời sống bằng việc thu nhận vật thực. Đây là thời điểm thứ ba không thích hợp cho sự tinh cần.

Lại nữa, có nguy hiểm do loạn lạc ở vùng biên địa, dân chúng trong xứ phải lên xe chạy trốn khắp nơi. Đây là thời điểm thứ tư không thích hợp cho sự tinh cần.

Lại nữa, Tăng đoàn bị chia rẽ. Khi Tăng đoàn bị chia rẽ, họ mắng nhiếc, lăng mạ, cản trở và từ bỏ lẫn nhau. Điều này không làm phát sinh niềm tin nơi những người chưa có niềm tin, và làm thay đổi tâm của một số người đã có niềm tin. Đây là thời điểm thứ năm không thích hợp cho sự tinh cần.

Đó là năm thời điểm không thích hợp cho sự tinh cần.

Có năm thời điểm thích hợp cho sự tinh cần. Năm loại ấy là gì?

Thứ nhất, một vị Tỷ-kheo còn trẻ, thanh niên, tóc đen nhánh, đầy sức trẻ, trong độ tuổi sung mãn nhất. Đây là thời điểm thứ nhất thích hợp cho sự tinh cần.

Lại nữa, vị ấy ít bệnh, ít não. Bộ tiêu hóa hoạt động tốt, không quá nóng không quá lạnh, quân bình, thích hợp cho sự tinh cần. Đây là thời điểm thứ hai thích hợp cho sự tinh cần.

Lại nữa, vật thực dồi dào, được mùa, dễ kiếm vật thực khất thực, dễ duy trì đời sống bằng việc thu nhận vật thực. Đây là thời điểm thứ ba thích hợp cho sự tinh cần.

Lại nữa, mọi người sống hòa hợp, quý mến nhau, không cãi cọ, hòa thuận như nước với sữa, nhìn nhau với ánh mắt thiện cảm. Đây là thời điểm thứ tư thích hợp cho sự tinh cần.

Lại nữa, Tăng đoàn sống thoải mái, hòa hợp, quý mến nhau, không cãi cọ, cùng chung một lời dạy. Khi Tăng đoàn hòa hợp, họ không mắng nhiếc, lăng mạ, cản trở hay từ bỏ lẫn nhau. Điều này làm phát sinh niềm tin nơi những người chưa có niềm tin, và làm tăng trưởng niềm tin nơi những người đã có niềm tin. Đây là thời điểm thứ năm thích hợp cho sự tinh cần.

Đó là năm thời điểm thích hợp cho sự tinh cần."

AN 5.55 Mẹ và Con Trai Mātāputtasutta

Một thời Đức Phật trú gần Sāvatthī, tại Kỳ Viên, tịnh xá ông Anāthapiṇḍika.

Bấy giờ, có hai mẹ con cùng nhập hạ tại Sāvatthī, một vị là Tỷ-kheo, một vị là Tỷ-kheo-ni. Họ muốn thường xuyên gặp nhau. Người mẹ muốn thường gặp con trai, và người con trai cũng muốn thường gặp mẹ. Do thường gặp nhau, họ trở nên thân thiết. Do thân thiết, họ trở nên gần gũi. Và do gần gũi, dục vọng xâm chiếm họ. Với tâm bị dục vọng nhấn chìm, không từ bỏ học pháp và tuyên bố không thể tiếp tục, họ đã hành dâm.

Rồi một số Tỷ-kheo đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và kể lại sự việc đã xảy ra.

"Này các Tỷ-kheo, làm sao kẻ ngu si đó có thể nghĩ rằng mẹ không thể ham muốn con trai, hay con trai không thể ham muốn mẹ? So với hình ảnh người nữ, Ta không thấy một hình ảnh nào khác lại quyến rũ, gợi cảm, say đắm, mê hoặc, và làm say mê đến thế, và là một trở ngại lớn đến thế để đạt được an ổn tối thượng khỏi ách buộc (supreme sanctuary from the yoke / nơi an toàn cao nhất thoát khỏi sự trói buộc). Chúng sinh tham ái, tham lam, bị trói buộc, say mê, và dính mắc vào hình ảnh người nữ. Họ đau khổ lâu dài dưới sự chi phối của hình ảnh người nữ.

So với âm thanh... mùi hương... vị... xúc chạm của người nữ, Ta không thấy một xúc chạm nào khác lại quyến rũ, gợi cảm, say đắm, mê hoặc, và làm say mê đến thế, và là một trở ngại lớn đến thế để đạt được an ổn tối thượng khỏi ách buộc. Chúng sinh tham ái, tham lam, bị trói buộc, say mê, và dính mắc vào xúc chạm của người nữ. Họ đau khổ lâu dài dưới sự chi phối của xúc chạm người nữ.

Khi người nữ đi, nàng chiếm giữ tâm trí người nam. Khi người nữ đứng... ngồi... nằm... cười... nói... hát... khóc... bị thương, nàng chiếm giữ tâm trí người nam. Ngay cả khi người nữ đã chết, nàng vẫn chiếm giữ tâm trí người nam. Vì nếu có ai đáng được gọi đúng là 'cạm bẫy toàn diện của Ma Vương', thì đó chính là người nữ.

Ngươi có thể trò chuyện với kẻ cầm dao trong tay.
Ngươi thậm chí có thể trò chuyện với dạ xoa.
Ngươi có thể ngồi gần một con rắn độc,
Mà vết cắn của nó sẽ lấy mạng ngươi.
Nhưng đừng bao giờ trò chuyện
Riêng tư với một người nữ.

Họ quyến rũ kẻ thất niệm
Bằng ánh mắt và nụ cười.
Hay ăn mặc hở hang,
Họ nói lời quyến rũ.
Không tốt khi ngồi với người như vậy,
Dù nàng bị thương hay đã chết.

Năm loại kích thích giác quan này
Hiện rõ trong thân người nữ:
Hình ảnh, âm thanh, vị, mùi,
Và xúc chạm thật thú vị.

Những ai bị cuốn trôi bởi dòng lũ dục lạc,
Không hiểu rõ chúng,
Bị luân hồi chi phối—
Thời gian, cảnh giới, và đời này sang đời khác.

Nhưng những ai hiểu hoàn toàn dục lạc
Sống không sợ hãi từ bất cứ đâu.
Họ là những người trên thế gian đã vượt qua,
Đã đạt đến sự chấm dứt phiền não."

AN 5.56 Thầy Tế Độ Upajjhāyasutta

Rồi một vị Tỷ-kheo đến gặp thầy tế độ của mình và thưa: "Bạch thầy, nay thân con cảm thấy như bị bỏ thuốc mê. Con mất phương hướng, giáo pháp không hiện khởi trong tâm, và uể oải sao nhãng cùng buồn ngủ tràn ngập tâm trí con. Con sống đời phạm hạnh không hài lòng, và có nghi ngờ về giáo pháp."

Rồi vị Tỷ-kheo ấy dẫn đệ tử của mình đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và thưa với Ngài: "Bạch Thế Tôn, vị Tỷ-kheo này nói như sau: 'Bạch thầy, nay thân con cảm thấy như bị bỏ thuốc mê. Con mất phương hướng, giáo pháp không hiện khởi trong tâm, và uể oải sao nhãng cùng buồn ngủ tràn ngập tâm trí con. Con sống đời phạm hạnh không hài lòng, và có nghi ngờ về giáo pháp.'"

"Này Tỷ-kheo, sự việc là như vậy khi các căn của con không được phòng hộ, con không tiết độ trong ăn uống, con không chuyên tâm vào sự tỉnh thức, con không thể nhận biết các pháp thiện, và con không theo đuổi việc phát triển các phẩm chất đưa đến giác ngộ vào buổi tối và lúc rạng đông. Thân con cảm thấy như bị bỏ thuốc mê. Con mất phương hướng, giáo pháp không hiện khởi trong tâm, và uể oải sao nhãng cùng buồn ngủ tràn ngập tâm trí con. Con sống đời phạm hạnh không hài lòng, và có nghi ngờ về giáo pháp.

Vậy con nên tu tập như thế này: 'Ta sẽ phòng hộ các căn, tiết độ trong ăn uống, chuyên tâm vào sự tỉnh thức, nhận biết các pháp thiện, và theo đuổi việc phát triển các phẩm chất đưa đến giác ngộ vào buổi tối và lúc rạng đông.' Đó là cách con nên tu tập."

Khi vị Tỷ-kheo ấy được Đức Phật khuyên dạy như vậy, vị ấy từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Đức Phật, đi quanh Ngài theo chiều bên phải rồi ra đi.

Rồi vị Tỷ-kheo ấy, sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm, và quyết chí, không lâu sau, tự mình chứng ngộ, đạt được mục đích tối thượng của đời sống phạm hạnh ngay trong đời này. Vị ấy sống, đã thành tựu với trí tuệ của mình mục đích mà vì đó các thiện nam tử chân chính xuất gia, từ bỏ đời sống gia đình, sống đời không gia đình.

Vị ấy hiểu rõ: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa." Và vị Tỷ-kheo ấy trở thành một bậc A-la-hán.

Khi vị Tỷ-kheo ấy đã chứng quả A-la-hán, vị ấy đến gặp thầy tế độ của mình và thưa: "Bạch thầy, nay thân con không còn cảm thấy như bị bỏ thuốc mê. Con không mất phương hướng, giáo pháp hiện khởi trong tâm, và uể oải sao nhãng cùng buồn ngủ không còn tràn ngập tâm trí con. Con sống đời phạm hạnh hài lòng, và không còn nghi ngờ về giáo pháp."

Rồi vị Tỷ-kheo ấy dẫn đệ tử của mình đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và thưa với Ngài: "Bạch Thế Tôn, vị Tỷ-kheo này nói như sau: 'Bạch thầy, nay thân con không còn cảm thấy như bị bỏ thuốc mê. Con không mất phương hướng, giáo pháp hiện khởi trong tâm, và uể oải sao nhãng cùng buồn ngủ không còn tràn ngập tâm trí con. Con sống đời phạm hạnh hài lòng, và không còn nghi ngờ về giáo pháp.'"

"Này Tỷ-kheo, sự việc là như vậy khi các căn của con được phòng hộ, con tiết độ trong ăn uống, con chuyên tâm vào sự tỉnh thức, con có thể nhận biết các pháp thiện, và con theo đuổi việc phát triển các phẩm chất đưa đến giác ngộ vào buổi tối và lúc rạng đông. Thân con không cảm thấy như bị bỏ thuốc mê. Con không mất phương hướng, giáo pháp hiện khởi trong tâm, và uể oải sao nhãng cùng buồn ngủ không tràn ngập tâm trí con. Con sống đời phạm hạnh hài lòng, và không có nghi ngờ về giáo pháp.

Vậy các con nên tu tập như thế này: 'Chúng ta sẽ phòng hộ các căn, tiết độ trong ăn uống, chuyên tâm vào sự tỉnh thức, nhận biết các pháp thiện, và theo đuổi việc phát triển các phẩm chất đưa đến giác ngộ vào buổi tối và lúc rạng đông.' Đó là cách các con nên tu tập."

AN 5.57 Các Pháp Cần Thường Xuyên Quán Xét Abhiṇhapaccavekkhitabbaṭhānasutta

"Này các Tỷ-kheo, người nữ hay người nam, tại gia hay xuất gia nên thường xuyên quán xét năm điều này. Năm điều ấy là gì?

'Ta có bản chất già, không thoát khỏi già.' Người nữ hay người nam, tại gia hay xuất gia nên thường xuyên quán xét điều này.

'Ta có bản chất bệnh, không thoát khỏi bệnh.' ...

'Ta có bản chất chết, không thoát khỏi chết.' ...

'Ta phải bị chia lìa, xa cách tất cả những gì thân ái, quý mến.' ...

'Ta là chủ nhân của nghiệp (deeds / hành động có chủ ý), là người thừa tự nghiệp. Nghiệp là thai tạng, là quyến thuộc, là nơi nương tựa của ta. Bất cứ nghiệp nào ta làm, thiện hay ác, ta sẽ là người thừa tự nghiệp ấy.' Người nữ hay người nam, tại gia hay xuất gia nên thường xuyên quán xét điều này.

Lợi ích gì cho người nữ hay người nam, tại gia hay xuất gia khi thường xuyên quán xét điều này: 'Ta có bản chất già, không thoát khỏi già'? Có những chúng sinh, do say sưa với sự kiêu hãnh về tuổi trẻ, làm điều xấu ác qua thân, khẩu, ý. Khi thường xuyên quán xét điều này, họ hoàn toàn từ bỏ sự kiêu hãnh về tuổi trẻ, hoặc ít nhất là làm giảm bớt nó. Đây là lợi ích cho người nữ hay người nam, tại gia hay xuất gia khi thường xuyên quán xét điều này: 'Ta có bản chất già, không thoát khỏi già'.

Lợi ích gì khi thường xuyên quán xét điều này: 'Ta có bản chất bệnh, không thoát khỏi bệnh'? Có những chúng sinh, do say sưa với sự kiêu hãnh về sức khỏe, làm điều xấu ác qua thân, khẩu, ý. Khi thường xuyên quán xét điều này, họ hoàn toàn từ bỏ sự kiêu hãnh về sức khỏe, hoặc ít nhất là làm giảm bớt nó. Đây là lợi ích khi thường xuyên quán xét điều này: 'Ta có bản chất bệnh, không thoát khỏi bệnh'.

Lợi ích gì khi thường xuyên quán xét điều này: 'Ta có bản chất chết, không thoát khỏi chết'? Có những chúng sinh, do say sưa với sự kiêu hãnh về sự sống, làm điều xấu ác qua thân, khẩu, ý. Khi thường xuyên quán xét điều này, họ hoàn toàn từ bỏ sự kiêu hãnh về sự sống, hoặc ít nhất là làm giảm bớt nó. Đây là lợi ích khi thường xuyên quán xét điều này: 'Ta có bản chất chết, không thoát khỏi chết'.

Lợi ích gì khi thường xuyên quán xét điều này: 'Ta phải bị chia lìa, xa cách tất cả những gì thân ái, quý mến'? Có những chúng sinh, do bị kích động bởi ham muốn và dục vọng đối với những gì thân ái, quý mến, làm điều xấu ác qua thân, khẩu, ý. Khi thường xuyên quán xét điều này, họ hoàn toàn từ bỏ ham muốn và dục vọng đối với những gì thân ái, quý mến, hoặc ít nhất là làm giảm bớt nó. Đây là lợi ích khi thường xuyên quán xét điều này: 'Ta phải bị chia lìa, xa cách tất cả những gì thân ái, quý mến'.

Lợi ích gì khi thường xuyên quán xét như thế này: 'Ta là chủ nhân của nghiệp, là người thừa tự nghiệp. Nghiệp là thai tạng, là quyến thuộc, là nơi nương tựa của ta. Bất cứ nghiệp nào ta làm, thiện hay ác, ta sẽ là người thừa tự nghiệp ấy'? Có những chúng sinh làm điều xấu ác qua thân, khẩu, ý. Khi thường xuyên quán xét điều này, họ hoàn toàn từ bỏ hành vi xấu ác, hoặc ít nhất là làm giảm bớt nó. Đây là lợi ích cho người nữ hay người nam, tại gia hay xuất gia khi thường xuyên quán xét như thế này: 'Ta là chủ nhân của nghiệp, là người thừa tự nghiệp. Nghiệp là thai tạng, là quyến thuộc, là nơi nương tựa của ta. Bất cứ nghiệp nào ta làm, thiện hay ác, ta sẽ là người thừa tự nghiệp ấy.'

Khi ấy, vị Thánh đệ tử quán xét: 'Không chỉ riêng ta có bản chất già, không thoát khỏi già. Mà tất cả chúng sinh, trong khi còn đến đi, chết và tái sinh, đều có bản chất già theo tự nhiên.' Khi vị ấy thường xuyên quán xét điều này, con đường đạo sinh khởi trong vị ấy. Vị ấy tu tập, phát triển và làm cho sung mãn con đường ấy. Nhờ đó, vị ấy từ bỏ các kiết sử (fetters / những sợi dây trói buộc) và loại trừ các tùy miên (underlying tendencies / những khuynh hướng ngấm ngầm).

'Không chỉ riêng ta có bản chất bệnh, không thoát khỏi bệnh. Mà tất cả chúng sinh, trong khi còn đến đi, chết và tái sinh, đều có bản chất bệnh theo tự nhiên.' Khi vị ấy thường xuyên quán xét điều này, con đường đạo sinh khởi trong vị ấy. Vị ấy tu tập, phát triển và làm cho sung mãn con đường ấy. Nhờ đó, vị ấy từ bỏ các kiết sử và loại trừ các tùy miên.

'Không chỉ riêng ta có bản chất chết, không thoát khỏi chết. Mà tất cả chúng sinh, trong khi còn đến đi, chết và tái sinh, đều có bản chất chết theo tự nhiên.' Khi vị ấy thường xuyên quán xét điều này, con đường đạo sinh khởi trong vị ấy. Vị ấy tu tập, phát triển và làm cho sung mãn con đường ấy. Nhờ đó, vị ấy từ bỏ các kiết sử và loại trừ các tùy miên.

'Không chỉ riêng ta phải bị chia lìa, xa cách tất cả những gì thân ái, quý mến. Mà tất cả chúng sinh, trong khi còn đến đi, chết và tái sinh, đều phải bị chia lìa, xa cách tất cả những gì thân ái, quý mến theo tự nhiên.' Khi vị ấy thường xuyên quán xét điều này, con đường đạo sinh khởi trong vị ấy. Vị ấy tu tập, phát triển và làm cho sung mãn con đường ấy. Nhờ đó, vị ấy từ bỏ các kiết sử và loại trừ các tùy miên.

'Không chỉ riêng ta là chủ nhân của nghiệp, là người thừa tự nghiệp. Mà tất cả chúng sinh, trong khi còn đến đi, chết và tái sinh, đều là chủ nhân của nghiệp, là người thừa tự nghiệp theo tự nhiên.' Khi vị ấy thường xuyên quán xét điều này, con đường đạo sinh khởi trong vị ấy. Vị ấy tu tập, phát triển và làm cho sung mãn con đường ấy. Nhờ đó, vị ấy từ bỏ các kiết sử và loại trừ các tùy miên.

Với người khác, bệnh tật là tự nhiên,
Cũng như tuổi già và cái chết.
Dù bản chất của họ là vậy,
Người phàm phu cảm thấy ghê tởm.

Nếu ta cũng ghê tởm
Với những chúng sinh có bản chất như thế,
Điều đó không thích hợp với ta,
Vì đời sống của ta cũng y như vậy.

Sống theo cách như vậy,
Ta hiểu chân lý không còn chấp thủ.
Ta chế ngự mọi kiêu hãnh—
Về sức khỏe, về tuổi trẻ,

Và cả về sự sống—
Thấy sự từ bỏ là nơi ẩn náu an toàn.
Nhiệt tâm khởi lên trong ta
Khi ta hướng về Niết-bàn.

Giờ đây ta không thể
Đắm mình trong dục lạc;
Không còn đường quay lại,
Ta quyết tâm với đời sống phạm hạnh."

AN 5.58 Các Thanh Niên Licchavi Licchavikumārakasutta

Một thời Đức Phật trú gần Vesālī, tại Đại Lâm (Mahāvana), trong Trùng Các Giảng Đường (Kūtāgārasālā).

Rồi vào buổi sáng, Đức Phật đắp y, mang bát, vào Vesālī để khất thực. Sau bữa ăn, khi đã đi khất thực về, Ngài đi sâu vào rừng Đại Lâm và ngồi dưới gốc cây để thiền định ban ngày.

Bấy giờ, một số thanh niên Licchavi mang theo cung đã giương dây, dẫn theo một bầy chó săn, đi dạo trong rừng Đại Lâm thì thấy Đức Phật đang ngồi dưới gốc cây. Khi thấy Ngài, họ đặt cung đã giương dây xuống, buộc chó săn sang một bên, rồi đến gần Ngài. Họ đảnh lễ và lặng lẽ chắp tay vái chào Đức Phật.

Bấy giờ, Mahānāma người Licchavi đang đi dạo trong rừng Đại Lâm thì thấy các thanh niên Licchavi ấy đang lặng lẽ chắp tay vái chào Đức Phật. Thấy vậy, ông đến gần Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và thốt lên lời cảm thán này: "Họ sẽ trở thành người Vajjī! Họ sẽ trở thành người Vajjī!"

"Nhưng này Mahānāma, tại sao ông lại nói rằng họ sẽ trở thành người Vajjī?"

"Bạch Thế Tôn, các thanh niên Licchavi này bạo lực, thô lỗ và xấc xược. Bất cứ khi nào các gia đình để đồ ngọt ra—mía, táo tàu, bánh kếp, bánh nướng, hay bánh rán—chúng lén lấy và ăn hết. Và chúng đánh vào lưng phụ nữ và thiếu nữ con nhà lành. Nhưng bây giờ chúng đang lặng lẽ chắp tay vái chào Đức Phật."

"Này Mahānāma, chỉ có thể mong đợi sự tăng trưởng, không suy giảm, khi tìm thấy năm phẩm chất này ở bất kỳ người thiện gia nào—dù người ấy là vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, quan chức được bổ nhiệm hay cha truyền con nối, tướng quân, trưởng làng, trưởng phường hội, hay người đứng đầu gia tộc của mình.

Năm phẩm chất ấy là gì?

Thứ nhất, một người thiện gia dùng tài sản chính đáng của mình—kiếm được bằng nỗ lực và sáng kiến, gây dựng bằng chính đôi tay, thu thập bằng mồ hôi công sức—để tôn kính, quý trọng, đề cao và phụng dưỡng cha mẹ mình. Được tôn kính như vậy, cha mẹ yêu thương người ấy với tâm tốt lành, mong muốn: 'Hãy sống lâu! Hãy sống thật lâu!' Khi một người thiện gia được cha mẹ yêu thương, chỉ có thể mong đợi sự tăng trưởng, không suy giảm.

Lại nữa, một người thiện gia dùng tài sản chính đáng của mình để tôn kính, quý trọng, đề cao và phụng dưỡng vợ con, người hầu, công nhân và nhân viên. Được tôn kính như vậy, vợ con, người hầu, công nhân và nhân viên yêu thương người ấy với tâm tốt lành, mong muốn: 'Hãy sống lâu! Hãy sống thật lâu!' Khi một người thiện gia được vợ con, người hầu, công nhân và nhân viên yêu thương, chỉ có thể mong đợi sự tăng trưởng, không suy giảm.

Lại nữa, một người thiện gia dùng tài sản chính đáng của mình để tôn kính, quý trọng, đề cao và phụng dưỡng những người làm ruộng lân cận và những người làm ăn với mình. Được tôn kính như vậy, những người làm ruộng lân cận và những người làm ăn với mình yêu thương người ấy với tâm tốt lành, mong muốn: 'Hãy sống lâu! Hãy sống thật lâu!' Khi một người thiện gia được những người làm ruộng lân cận và những người làm ăn với mình yêu thương, chỉ có thể mong đợi sự tăng trưởng, không suy giảm.

Lại nữa, một người thiện gia dùng tài sản chính đáng của mình để tôn kính, quý trọng, đề cao và phụng dưỡng các vị trời thần nhận vật cúng tế. Được tôn kính như vậy, các vị trời thần nhận vật cúng tế yêu thương người ấy với tâm tốt lành, mong muốn: 'Hãy sống lâu! Hãy sống thật lâu!' Khi một người thiện gia được các vị trời thần yêu thương, chỉ có thể mong đợi sự tăng trưởng, không suy giảm.

Lại nữa, một người thiện gia dùng tài sản chính đáng của mình để tôn kính, quý trọng, đề cao và phụng dưỡng các vị Sa-môn và Bà-la-môn. Được tôn kính như vậy, các vị Sa-môn và Bà-la-môn yêu thương người ấy với tâm tốt lành, mong muốn: 'Hãy sống lâu! Hãy sống thật lâu!' Khi một người thiện gia được các vị Sa-môn và Bà-la-môn yêu thương, chỉ có thể mong đợi sự tăng trưởng, không suy giảm.

Chỉ có thể mong đợi sự tăng trưởng, không suy giảm, khi tìm thấy năm phẩm chất này ở bất kỳ người thiện gia nào—dù người ấy là vua Sát-đế-lỵ đã làm lễ quán đảnh, quan chức được bổ nhiệm hay cha truyền con nối, tướng quân, trưởng làng, trưởng phường hội, hay người đứng đầu gia tộc của mình.

Người ấy luôn hiếu thảo với cha mẹ,
Và vì lợi ích của vợ con.
Người ấy chăm lo cho những người trong nhà,
Và những người sống nhờ vào mình.

Một người tử tế và có đạo đức
Chăm lo phúc lợi cho quyến thuộc—
Cả những người đã qua đời,
Và những người còn sống hiện tại.

Khi sống tại gia, người khôn ngoan
Dùng phương tiện chính đáng để tạo niềm vui
Cho các vị Sa-môn, Bà-la-môn,
Và cả chư Thiên nữa.

Sau khi đã làm điều tốt,
Người ấy đáng kính và đáng tán dương.
Người đời ca ngợi người ấy trong đời này,
Và người ấy ra đi để hưởng phúc trên thiên giới."

AN 5.59 Xuất Gia Khi Già (1) Paṭhamavuḍḍhapabbajitasutta

"Này các Tỷ-kheo, thật khó tìm được người xuất gia khi tuổi đã già mà có đủ năm phẩm chất. Năm phẩm chất ấy là gì? Thật khó tìm được người xuất gia khi tuổi đã già mà tinh tế, có uy nghi, và học rộng, có thể giảng Pháp, và thuộc lòng giới luật. Thật khó tìm được người xuất gia khi tuổi đã già mà có đủ năm phẩm chất này."

AN 5.60 Xuất Gia Khi Già (2) Dutiyavuḍḍhapabbajitasutta

"Này các Tỷ-kheo, thật khó tìm được người xuất gia khi tuổi đã già mà có đủ năm phẩm chất. Năm phẩm chất ấy là gì? Thật khó tìm được người xuất gia khi tuổi đã già mà dễ khuyên bảo, ghi nhớ những gì đã học, và học hỏi với lòng kính trọng, có thể giảng Pháp, và thuộc lòng giới luật. Thật khó tìm được người xuất gia khi tuổi đã già mà có đủ năm phẩm chất này."