Phẩm Lớn
AN 6.55 Kinh Soṇa
TÔI NGHE NHƯ VẦY. Một thời Đức Phật trú gần thành Rājagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu).
Lúc bấy giờ, Tôn giả Soṇa trú gần thành Rājagaha trong khu Rừng Lạnh (Sītavana). Khi đang độc cư thiền tịnh, tâm trí Tôn giả khởi lên ý nghĩ này: "Ta là một trong những đệ tử siêng năng (energetic / tinh tấn) nhất của Đức Phật. Vậy mà tâm ta vẫn chưa giải thoát khỏi các lậu hoặc (defilements / phiền não, những thứ làm ô nhiễm tâm) qua việc không chấp thủ (grasping / dính mắc, bám víu). Nhưng gia đình ta giàu có. Ta có thể hưởng thụ tài sản đó và tạo phước. Sao ta không từ bỏ việc tu tập và trở về đời sống thấp hơn, để có thể hưởng thụ tài sản và tạo phước?"
Bấy giờ, Đức Phật biết được suy nghĩ của Tôn giả Soṇa. Như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại hay co cánh tay đang duỗi ra, Ngài biến mất khỏi núi Linh Thứu và hiện ra tại Rừng Lạnh, trước mặt Soṇa, rồi ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn. Soṇa đảnh lễ Đức Phật và ngồi xuống một bên.
Đức Phật nói với Tôn giả: "Này Soṇa, có phải khi đang độc cư thiền tịnh, tâm trí thầy khởi lên ý nghĩ này: 'Ta là một trong những đệ tử siêng năng nhất của Đức Phật. Vậy mà tâm ta vẫn chưa giải thoát khỏi các lậu hoặc qua việc không chấp thủ. Nhưng gia đình ta giàu có. Ta có thể hưởng thụ tài sản đó và tạo phước. Sao ta không từ bỏ việc tu tập và trở về đời sống thấp hơn, để có thể hưởng thụ tài sản và tạo phước?'"
"Bạch Thế Tôn, đúng vậy."
"Này Soṇa, thầy nghĩ sao? Khi còn là cư sĩ, có phải thầy là người chơi đàn hạc cong rất giỏi không?"
"Bạch Thế Tôn, đúng vậy."
"Khi dây đàn hạc của thầy căng quá, nó có réo rắt và dễ chơi không?"
"Bạch Thế Tôn, không."
"Khi dây đàn hạc của thầy chùng quá, nó có réo rắt và dễ chơi không?"
"Bạch Thế Tôn, không."
"Nhưng khi dây đàn hạc của thầy không quá căng cũng không quá chùng, mà được chỉnh ở mức độ vừa phải, nó có réo rắt và dễ chơi không?"
"Bạch Thế Tôn, đúng vậy."
"Cũng vậy, này Soṇa, khi sự siêng năng quá mạnh mẽ, nó dẫn đến bồn chồn lo lắng (restlessness / trạo cử). Khi sự siêng năng quá yếu ớt, nó dẫn đến lười biếng. Vì vậy, này Soṇa, thầy nên chú tâm vào sự siêng năng và an tịnh (serenity / sự tĩnh lặng của tâm), tìm sự cân bằng của các căn (faculties / giác quan và tâm ý), và học hỏi khuôn mẫu của trạng thái này."
"Bạch Thế Tôn, vâng ạ," Soṇa đáp.
Sau khi khuyên dạy Soṇa như vậy, Đức Phật, như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại hay co cánh tay đang duỗi ra, biến mất khỏi Rừng Lạnh và hiện lại trên núi Linh Thứu.
Sau một thời gian, Soṇa chú tâm vào sự siêng năng và an tịnh, tìm thấy sự cân bằng của các căn, và học hỏi khuôn mẫu của trạng thái này. Rồi Soṇa, sống một mình, ẩn dật, chuyên cần, nhiệt tâm, và quyết chí, không bao lâu đã chứng ngộ được mục đích tối thượng của đời sống phạm hạnh (spiritual path / con đường tu tập tâm linh) ngay trong đời này. Tôn giả sống, đã thành tựu bằng trí tuệ (insight / tuệ giác, sự thấy biết trực tiếp) của chính mình mục tiêu mà vì đó các thiện nam tử chân chính từ bỏ đời sống thế tục, xuất gia sống không nhà cửa.
Tôn giả hiểu rõ: "Sanh (Rebirth / tái sinh) đã tận; đời sống phạm hạnh đã hoàn thành; những gì cần làm đã làm; không còn trở lui trạng thái này nữa." Và Tôn giả Soṇa trở thành một trong những vị A-la-hán (perfected / bậc đã hoàn thiện, giác ngộ).
Sau đó, khi Soṇa đã chứng quả A-la-hán, Tôn giả nghĩ: "Sao ta không đến gặp Đức Phật và tuyên bố sự giác ngộ (enlightenment / sự tỉnh thức hoàn toàn) của mình trước Ngài?" Rồi Soṇa đi đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và thưa:
"Bạch Thế Tôn, một vị Tỳ kheo đã là bậc A-la-hán---đã đoạn tận các lậu hoặc, đã hoàn thành đời sống phạm hạnh, đã làm những gì cần làm, đã đặt gánh nặng xuống, đã đạt được mục đích chân chính của mình, đã hoàn toàn chấm dứt kiết sử (fetter / những trói buộc tâm linh) đưa đến tái sanh, và được giải thoát chân chính nhờ giác ngộ---vị ấy chuyên tâm vào sáu điều. Vị ấy chuyên tâm vào ly dục (renunciation / sự từ bỏ ham muốn), độc cư (seclusion / sống một mình nơi thanh vắng), từ tâm (kindness / lòng nhân ái, không sân hận), sự chấm dứt tham ái (craving / sự khao khát, ham muốn), sự chấm dứt chấp thủ, và tâm minh mẫn (mental clarity / tâm sáng suốt, không mê mờ).
Bạch Thế Tôn, có thể có vị Tôn giả nào đó ở đây nghĩ rằng: 'Có lẽ vị Tôn giả này chuyên tâm vào ly dục chỉ đơn thuần vì niềm tin (faith / tín).' Nhưng không nên nhìn nhận như vậy. Một vị Tỳ kheo đã đoạn tận lậu hoặc không thấy nơi mình còn điều gì phải làm thêm, hay điều gì cần cải thiện. Vị ấy chuyên tâm vào ly dục vì đã giải thoát khỏi tham (greed / lòng tham), tức giận (hate / sân hận), và si mê (delusion / sự mê lầm) cùng với sự chấm dứt của tham, tức giận, và si mê.
Bạch Thế Tôn, có thể có vị Tôn giả nào đó ở đây nghĩ rằng: 'Có lẽ vị Tôn giả này chuyên tâm vào độc cư vì thích lợi dưỡng, danh vọng, và tiếng tăm (possessions, honor, and popularity / của cải, sự tôn kính và sự nổi tiếng).' Nhưng không nên nhìn nhận như vậy. ...
Bạch Thế Tôn, có thể có vị Tôn giả nào đó ở đây nghĩ rằng: 'Có lẽ vị Tôn giả này chuyên tâm vào từ tâm vì tin rằng việc tuân thủ giới luật và nghi lễ (precepts and observances / các quy tắc đạo đức và các nghi thức) là thiết yếu.' Nhưng không nên nhìn nhận như vậy. ...
Vị ấy chuyên tâm vào sự chấm dứt tham ái vì đã giải thoát khỏi tham, tức giận, và si mê cùng với sự chấm dứt của tham, tức giận, và si mê.
Vị ấy chuyên tâm vào sự chấm dứt chấp thủ vì đã giải thoát khỏi tham, tức giận, và si mê cùng với sự chấm dứt của tham, tức giận, và si mê.
Vị ấy chuyên tâm vào tâm minh mẫn vì đã giải thoát khỏi tham, tức giận, và si mê cùng với sự chấm dứt của tham, tức giận, và si mê.
Khi tâm của một vị Tỳ kheo được giải thoát chân chính như vậy, ngay cả khi những cảnh sắc (sights / đối tượng của mắt) hấp dẫn xuất hiện trong tầm nhìn, chúng cũng không chi phối được tâm vị ấy. Tâm (mind / ý thức, tâm trí) vẫn không bị ô nhiễm. Tâm vững vàng, không lay động, quan sát sự biến mất. Ngay cả khi những âm thanh (sounds / đối tượng của tai)... mùi hương (smells / đối tượng của mũi)... vị nếm (tastes / đối tượng của lưỡi)... xúc chạm (touches / đối tượng của thân)... và ý niệm (ideas / đối tượng của ý) hấp dẫn xuất hiện trong tầm của tâm, chúng cũng không chi phối được tâm. Tâm vẫn không ô nhiễm (untainted / trong sạch). Tâm vững vàng (steady / kiên định), không lay động (imperturbable / bình thản), quan sát sự biến mất (disappearance / sự diệt đi).
Giả sử có một ngọn núi là một khối đá rắn chắc, không có vết nứt hay lỗ hổng. Ngay cả khi những cơn bão dữ dội nổi lên từ phương đông, phương tây, phương bắc, và phương nam, chúng cũng không thể làm nó rung chuyển, lung lay hay run rẩy.
Cũng vậy, khi tâm của một vị Tỳ kheo được giải thoát chân chính như vậy, ngay cả khi những cảnh sắc hấp dẫn xuất hiện trong tầm nhìn, chúng cũng không chi phối được tâm vị ấy. ... Tâm vẫn không bị ô nhiễm. Tâm vững vàng, không lay động, quan sát sự biến mất.
Khi chuyên tâm vào ly dục
Và độc cư trong tâm;
Khi chuyên tâm vào từ tâm
Và chấm dứt chấp thủ;Khi chuyên tâm vào chấm dứt tham ái
Và tâm hồn sáng tỏ;
Và thấy rõ sự sinh khởi của các căn,
Tâm thầy giải thoát chân chính.Với vị ấy, giải thoát chân chính,
Một Tỳ kheo tâm an tịnh,
Chẳng còn gì cần cải thiện,
Và chẳng còn gì phải làm thêm.Như gió không thể lay động
Một khối đá rắn chắc,
Cũng vậy, sắc, vị, thanh,
Hương, và xúc chạm---tất cả---Và các ý niệm, dù thích hay không thích,
Không làm xáo trộn người không bị ảnh hưởng.
Tâm vị ấy vững vàng và giải thoát
Khi quan sát sự biến mất."
AN 6.56 Kinh Phagguna
Lúc bấy giờ, Tôn giả Phagguna đang bị bệnh, đau đớn, bệnh tình trầm trọng. Khi ấy, Tôn giả Ānanda đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và thưa:
"Bạch Thế Tôn, Tôn giả Phagguna đang bị bệnh. Bạch Thế Tôn, xin Ngài vì lòng bi mẫn mà đến thăm Tôn giả Phagguna." Đức Phật im lặng nhận lời.
Rồi vào buổi chiều, Đức Phật rời khỏi nơi thiền tịnh và đi đến chỗ Tôn giả Phagguna. Tôn giả Phagguna thấy Đức Phật từ xa đi tới liền cố gắng ngồi dậy trên giường bệnh.
Đức Phật nói với Tôn giả: "Thôi được rồi, Phagguna, đừng ngồi dậy. Có chỗ ngồi đã được soạn sẵn kia, Ta sẽ ngồi đó."
Ngài ngồi xuống chỗ đã soạn sẵn và nói với Tôn giả Phagguna: "Ta mong thầy vẫn khỏe, Phagguna; ta mong thầy vẫn ổn. Và ta mong cơn đau đang giảm bớt, không tăng lên, sự giảm bớt của nó rõ ràng, chứ không phải sự tăng lên."
"Bạch Thế Tôn, con không khỏe, con không ổn. Cơn đau rất khủng khiếp và đang tăng lên, không giảm bớt; sự tăng lên của nó rõ ràng, chứ không phải sự giảm bớt.
Những cơn gió đâm vào đầu con dữ dội đến nỗi, cảm giác như có người lực sĩ dùng mũi khoan sắc nhọn khoan vào đầu con. Con không khỏe.
Cơn đau đầu dữ dội đến nỗi, cảm giác như có người lực sĩ dùng dây da cứng siết chặt quanh đầu con. Con không khỏe.
Những cơn gió cắt vào bụng con dữ dội đến nỗi, như một người đồ tể khéo léo hay phụ tá của họ dùng dao mổ sắc bén rạch bụng bò. Con không khỏe.
Cảm giác nóng rát trong người con dữ dội đến nỗi, cảm giác như hai người lực sĩ nắm lấy tay một người yếu hơn để thiêu đốt và nướng người đó trên hố than hồng rực. Con không khỏe, con không ổn. Cơn đau rất khủng khiếp và đang tăng lên, không giảm bớt; sự tăng lên của nó rõ ràng, chứ không phải sự giảm bớt."
Sau đó, Đức Phật đã giáo huấn, khuyến khích, khích lệ và truyền cảm hứng cho Tôn giả Phagguna bằng một bài Pháp thoại (Dhamma talk / bài giảng về giáo lý), sau đó Ngài đứng dậy khỏi chỗ ngồi và rời đi.
Không lâu sau khi Đức Phật rời đi, Tôn giả Phagguna qua đời. Vào lúc lâm chung, các căn của Tôn giả sáng suốt và trong tỏ. Bấy giờ, Tôn giả Ānanda đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và thưa: "Bạch Thế Tôn, ngay sau khi Đức Phật rời đi, Tôn giả Phagguna đã qua đời. Vào lúc lâm chung, các căn của Tôn giả sáng suốt và trong tỏ."
"Và tại sao các căn của thầy ấy lại không sáng suốt và trong tỏ chứ? Tâm của Tỳ kheo Phagguna chưa được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử (five lower fetters / năm trói buộc thấp hơn: thân kiến, hoài nghi, giới cấm thủ, dục tham, sân hận). Nhưng khi nghe bài Pháp thoại đó, tâm thầy ấy đã được giải thoát khỏi chúng.
Này Ānanda, có sáu lợi ích này của việc nghe Pháp đúng lúc và quán xét ý nghĩa đúng lúc. Sáu lợi ích đó là gì?
Thứ nhất, trường hợp một vị Tỳ kheo có tâm chưa giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Vào lúc lâm chung, vị ấy được gặp Đấng Như Lai (Realized One / bậc đã chứng ngộ chân lý). Đấng Như Lai thuyết giảng cho vị ấy một bài Pháp tốt đẹp ở phần đầu, tốt đẹp ở phần giữa, và tốt đẹp ở phần cuối, có ý nghĩa và lời lẽ rõ ràng. Và Ngài khai thị một đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh. Khi nghe bài Pháp thoại đó, tâm vị ấy được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Đây là lợi ích thứ nhất của việc nghe Pháp.
Tiếp theo, trường hợp một vị Tỳ kheo khác có tâm chưa giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Vào lúc lâm chung, vị ấy không được gặp Đấng Như Lai, nhưng được gặp một đệ tử của Đấng Như Lai. Đệ tử của Đấng Như Lai thuyết giảng Pháp cho vị ấy... Khi nghe bài Pháp thoại đó, tâm vị ấy được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Đây là lợi ích thứ hai của việc nghe Pháp.
Tiếp theo, trường hợp một vị Tỳ kheo khác có tâm chưa giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Vào lúc lâm chung, vị ấy không được gặp Đấng Như Lai, cũng không được gặp một đệ tử của Đấng Như Lai. Nhưng vị ấy suy ngẫm và quán xét Pháp trong tâm mình, dùng tâm trí xem xét những gì đã học và ghi nhớ. Khi làm như vậy, tâm vị ấy được giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử. Đây là lợi ích thứ ba của việc nghe Pháp.
Tiếp theo, trường hợp một vị Tỳ kheo có tâm đã giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, nhưng chưa đạt đến sự chấm dứt hoàn toàn các chấp thủ (supreme ending of attachments / sự đoạn tận mọi dính mắc). Vào lúc lâm chung, vị ấy được gặp Đấng Như Lai. Đấng Như Lai thuyết giảng Pháp cho vị ấy... Khi nghe bài Pháp thoại đó, tâm vị ấy được giải thoát với sự chấm dứt hoàn toàn các chấp thủ. Đây là lợi ích thứ tư của việc nghe Pháp.
Tiếp theo, trường hợp một vị Tỳ kheo khác có tâm đã giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, nhưng chưa đạt đến sự chấm dứt hoàn toàn các chấp thủ. Vào lúc lâm chung, vị ấy không được gặp Đấng Như Lai, nhưng được gặp một đệ tử của Đấng Như Lai. Đệ tử của Đấng Như Lai thuyết giảng Pháp cho vị ấy... Khi nghe bài Pháp thoại đó, tâm vị ấy được giải thoát với sự chấm dứt hoàn toàn các chấp thủ. Đây là lợi ích thứ năm của việc nghe Pháp.
Tiếp theo, trường hợp một vị Tỳ kheo khác có tâm đã giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử, nhưng chưa đạt đến sự chấm dứt hoàn toàn các chấp thủ. Vào lúc lâm chung, vị ấy không được gặp Đấng Như Lai, cũng không được gặp một đệ tử của Đấng Như Lai. Nhưng vị ấy suy ngẫm và quán xét Pháp trong tâm mình, dùng tâm trí xem xét những gì đã học và ghi nhớ. Khi làm như vậy, tâm vị ấy được giải thoát với sự chấm dứt hoàn toàn các chấp thủ. Đây là lợi ích thứ sáu của việc nghe Pháp.
Đó là sáu lợi ích của việc nghe Pháp đúng lúc và quán xét ý nghĩa đúng lúc."
AN 6.57 Sáu Loại Tái Sanh (Chaḷabhijātisutta)
Một thời Đức Phật trú gần thành Rājagaha, trên núi Linh Thứu. Bấy giờ, Tôn giả Ānanda đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và thưa:
"Bạch Thế Tôn, Pūraṇa Kassapa mô tả sáu loại tái sanh (classes of rebirth / hạng người được sinh ra): đen, xanh, đỏ, vàng, trắng, và trắng tối thượng.
Loại tái sanh đen bao gồm những người giết cừu, heo, gia cầm, hoặc hươu nai, thợ săn hoặc ngư phủ, kẻ cướp, đao phủ, đồ tể giết bò, cai ngục, và bất kỳ ai khác có nghề nghiệp tàn ác.
Loại tái sanh xanh bao gồm các Tỳ kheo có đời sống gai góc, và bất kỳ ai khác dạy về hiệu quả của hành động và nghiệp báo (efficacy of deeds and action / năng lực của việc làm và kết quả của nó).
Loại tái sanh đỏ bao gồm các tu sĩ (ascetics / người thực hành khổ hạnh) Jain (Ni-kiền-tử) chỉ mặc một mảnh vải.
Loại tái sanh vàng bao gồm những người cư sĩ mặc áo trắng là đệ tử của các tu sĩ lõa thể.
Loại tái sanh trắng bao gồm các nam nữ tu sĩ Ājīvaka (Tà Mạng).
Và loại tái sanh trắng tối thượng bao gồm Nanda Vaccha, Kisa Saṅkicca, và tu sĩ cầm gậy tre Gosāla.
Đó là sáu loại tái sanh mà Pūraṇa Kassapa mô tả."
"Nhưng này Ānanda, có phải cả thế giới đã ủy quyền cho Pūraṇa Kassapa mô tả sáu loại tái sanh này không?"
"Bạch Thế Tôn, không."
"Việc này giống như người ta ép một người nghèo khó, không một xu dính túi phải ăn thịt và bảo họ: 'Hãy ăn miếng thịt này và trả tiền đi!' Cũng vậy, Pūraṇa Kassapa đã mô tả sáu loại tái sanh này mà không có sự đồng ý của các vị tu sĩ và bà-la-môn đó. Và ông ta đã làm điều đó một cách ngu xuẩn, bất tài, vụng về, thiếu hiểu biết thông thường.
Tuy nhiên, Ta cũng mô tả sáu loại tái sanh. Hãy lắng nghe và chú tâm kỹ, Ta sẽ nói."
"Bạch Thế Tôn, vâng ạ," Ānanda đáp. Đức Phật nói điều này:
"Và này Ānanda, sáu loại tái sanh là gì? Người sinh vào loại đen (dark class / hạng người có nghiệp xấu) tạo ra kết quả đen. Người sinh vào loại đen tạo ra kết quả sáng. Người sinh vào loại đen tạo ra sự tịch diệt (extinguishment / Niết-bàn), không đen cũng không sáng. Người sinh vào loại sáng (bright class / hạng người có nghiệp tốt) tạo ra kết quả đen. Người sinh vào loại sáng tạo ra kết quả sáng. Người sinh vào loại sáng tạo ra sự tịch diệt, không đen cũng không sáng.
Và làm thế nào người sinh vào loại đen tạo ra kết quả đen? Đó là khi một người được tái sanh vào một gia đình hạ tiện (low family / gia đình thuộc tầng lớp thấp kém)---gia đình của những người làm nghề liên quan đến xác chết, làm đồ tre, thợ săn, làm xe ngựa, hoặc nhặt rác---nghèo khổ, ít đồ ăn thức uống, cuộc sống khó khăn, khó kiếm thức ăn và chỗ ở. Và họ xấu xí, khó coi, dị dạng, bệnh tật---chột mắt, tàn tật, què quặt, hoặc liệt nửa người. Họ không có thức ăn, thức uống, quần áo, và xe cộ; vòng hoa, hương thơm, và đồ trang điểm; hoặc giường, nhà, và đèn đuốc. Và họ làm điều xấu ác qua thân, khẩu, ý (bad things by way of body, speech, and mind / hành động, lời nói và suy nghĩ bất thiện). Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sanh vào cõi khổ (place of loss / nơi đoạ lạc), ác xứ (bad place / nơi xấu xa), địa ngục (underworld, hell / cõi thấp nhất). Đó là cách người sinh vào loại đen tạo ra kết quả đen.
Và làm thế nào người sinh vào loại đen tạo ra kết quả sáng? Đó là khi một người được tái sanh vào một gia đình hạ tiện... Nhưng họ làm điều tốt lành qua thân, khẩu, ý (good things by way of body, speech, and mind / hành động, lời nói và suy nghĩ thiện lành). Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sanh vào cõi lành (good place / nơi tốt đẹp), cõi trời (heavenly realm / cảnh giới chư thiên). Đó là cách người sinh vào loại đen tạo ra kết quả sáng.
Và làm thế nào người sinh vào loại đen tạo ra sự tịch diệt, không đen cũng không sáng? Đó là khi một người được tái sanh vào một gia đình hạ tiện... Họ cạo bỏ râu tóc, đắp y vàng, từ bỏ đời sống thế tục, xuất gia sống không nhà cửa. Họ từ bỏ năm triền cái (five hindrances / năm chướng ngại tâm linh: tham dục, sân hận, uể oải buồn ngủ, bồn chồn lo lắng hối hận, hoài nghi), những phiền não của tâm (corruptions of the heart / những ô nhiễm làm yếu đi trí tuệ) làm suy yếu trí tuệ (wisdom / tuệ). Họ thiết lập vững chắc tâm mình trong bốn pháp quán niệm (four kinds of mindfulness meditation / bốn nền tảng của tỉnh thức: thân, thọ, tâm, pháp). Họ thực sự phát triển bảy yếu tố giác ngộ (seven awakening factors / bảy chi phần dẫn đến giác ngộ: niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả). Và rồi họ tạo ra sự tịch diệt, không đen cũng không sáng. Đó là cách người sinh vào loại đen tạo ra sự tịch diệt, không đen cũng không sáng.
Và làm thế nào người sinh vào loại sáng tạo ra kết quả đen? Đó là khi một người được tái sanh vào một gia đình cao quý (eminent family / gia đình thuộc tầng lớp thượng lưu)---một gia đình giàu có thuộc dòng dõi quý tộc, bà-la-môn, hoặc gia chủ---giàu sang, sung túc, và phú quý, có nhiều vàng bạc, nhiều tài sản và của cải, nhiều tiền bạc và ngũ cốc. Và họ hấp dẫn, ưa nhìn, đáng yêu, có vẻ đẹp tuyệt trần. Họ có thức ăn, thức uống, quần áo, và xe cộ; vòng hoa, hương thơm, và đồ trang điểm; và giường, nhà, và đèn đuốc. Nhưng họ làm điều xấu ác qua thân, khẩu, ý. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sanh vào cõi khổ, ác xứ, địa ngục. Đó là cách người sinh vào loại sáng tạo ra kết quả đen.
Và làm thế nào người sinh vào loại sáng tạo ra kết quả sáng? Đó là khi một người được tái sanh vào một gia đình cao quý... Và họ làm điều tốt lành qua thân, khẩu, ý. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ được tái sanh vào cõi lành, cõi trời. Đó là cách người sinh vào loại sáng tạo ra kết quả sáng.
Và làm thế nào người sinh vào loại sáng tạo ra sự tịch diệt, không đen cũng không sáng? Đó là khi một người được tái sanh vào một gia đình cao quý... Họ cạo bỏ râu tóc, đắp y vàng, từ bỏ đời sống thế tục, xuất gia sống không nhà cửa. Họ từ bỏ năm triền cái, những phiền não của tâm làm suy yếu trí tuệ. Họ thiết lập vững chắc tâm mình trong bốn pháp quán niệm. Họ thực sự phát triển bảy yếu tố giác ngộ. Và rồi họ tạo ra sự tịch diệt, không đen cũng không sáng. Đó là cách người sinh vào loại sáng tạo ra sự tịch diệt, không đen cũng không sáng.
Đó là sáu loại tái sanh."
AN 6.58 Các Lậu Hoặc (Āsavasutta)
"Này các Tỳ kheo, một vị Tỳ kheo có sáu phẩm chất thì xứng đáng nhận lễ vật cúng dường chư thiên (offerings dedicated to the gods / vật phẩm dâng cúng), xứng đáng được tiếp đãi (hospitality / sự hiếu khách), xứng đáng nhận vật cúng dường (religious donation / sự bố thí tôn giáo), xứng đáng được đảnh lễ chắp tay (veneration with joined palms / sự tôn kính), và là ruộng phước tối thượng (supreme field of merit / nơi gieo trồng phước báu tốt nhất) cho đời. Sáu phẩm chất đó là gì?
Đó là vị Tỳ kheo, bằng sự phòng hộ (restraint / sự kiểm soát, thu thúc), đã từ bỏ các lậu hoặc cần được từ bỏ bằng sự phòng hộ. Bằng sự thọ dụng (using / sự sử dụng đúng cách), đã từ bỏ các lậu hoặc cần được từ bỏ bằng sự thọ dụng. Bằng sự kham nhẫn (enduring / sự chịu đựng), đã từ bỏ các lậu hoặc cần được từ bỏ bằng sự kham nhẫn. Bằng sự tránh né (avoiding / sự né tránh), đã từ bỏ các lậu hoặc cần được từ bỏ bằng sự tránh né. Bằng sự trừ diệt (getting rid / sự loại bỏ), đã từ bỏ các lậu hoặc cần được từ bỏ bằng sự trừ diệt. Bằng sự tu tập (developing / sự phát triển), đã từ bỏ các lậu hoặc cần được từ bỏ bằng sự tu tập.
Và những lậu hoặc nào cần được từ bỏ bằng sự phòng hộ? Hãy xem trường hợp một vị Tỳ kheo, như lý tác ý (reflecting rationally / hướng tâm đúng pháp), sống phòng hộ nhãn căn (eye faculty / giác quan mắt). Vì những lậu hoặc phiền muộn và bức bối (distressing and feverish defilements / phiền não gây khổ não và nóng nảy) có thể khởi lên ở người sống không phòng hộ nhãn căn sẽ không khởi lên khi có sự phòng hộ như vậy. Như lý tác ý, vị ấy sống phòng hộ nhĩ căn (ear faculty / giác quan tai)... tỷ căn (nose faculty / giác quan mũi)... thiệt căn (tongue faculty / giác quan lưỡi)... thân căn (body faculty / giác quan thân)... ý căn (mind faculty / giác quan ý). Vì những lậu hoặc phiền muộn và bức bối có thể khởi lên ở người sống không phòng hộ ý căn sẽ không khởi lên khi có sự phòng hộ như vậy. Đây được gọi là những lậu hoặc cần được từ bỏ bằng sự phòng hộ.
Và những lậu hoặc nào cần được từ bỏ bằng sự thọ dụng? Hãy xem trường hợp một vị Tỳ kheo, như lý tác ý, sử dụng y phục (robes / áo cà sa): 'Chỉ để ngăn ngừa lạnh và nóng; để ngăn ngừa sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, và loài bò sát; và để che đậy phần kín đáo.' Như lý tác ý, vị ấy sử dụng vật thực khất thực (almsfood / thức ăn nhận được khi đi xin): 'Không phải để vui đùa, hưởng thụ, trang điểm, hay trang hoàng, mà chỉ để duy trì thân này, để tránh tổn hại, và để hỗ trợ đời sống phạm hạnh (spiritual practice / việc tu tập tâm linh). Bằng cách này, ta sẽ chấm dứt cảm giác khó chịu cũ và không làm phát sinh cảm giác khó chịu mới, và ta sẽ có phương tiện để tiếp tục, không bị chê trách (blamelessness / không có lỗi lầm), và an trú thoải mái (comfortable abiding / sống một cách dễ chịu).' Như lý tác ý, vị ấy sử dụng chỗ ở (lodgings / nơi trú ngụ): 'Chỉ để ngăn ngừa lạnh và nóng; để ngăn ngừa sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, và loài bò sát; để che chở khỏi thời tiết khắc nghiệt và để hưởng thụ sự ẩn dật.' Như lý tác ý, vị ấy sử dụng thuốc men và vật dụng cho người bệnh (medicines and supplies for the sick / thuốc và đồ dùng cần thiết khi ốm đau): 'Chỉ để ngăn ngừa những cơn đau do bệnh tật và để tăng cường sức khỏe tốt.' Vì những lậu hoặc phiền muộn và bức bối có thể khởi lên ở người sống không sử dụng những thứ này sẽ không khởi lên khi chúng được sử dụng. Đây được gọi là những lậu hoặc cần được từ bỏ bằng sự thọ dụng.
Và những lậu hoặc nào cần được từ bỏ bằng sự kham nhẫn? Hãy xem trường hợp một vị Tỳ kheo, như lý tác ý, chịu đựng lạnh, nóng, đói, và khát. Vị ấy chịu đựng sự xúc chạm của ruồi, muỗi, gió, nắng, và loài bò sát. Vị ấy chịu đựng những lời chỉ trích thô lỗ và không mong muốn. Và vị ấy chịu đựng nỗi đau thể xác---nhói buốt, dữ dội, cấp tính, khó chịu, không vừa ý, và nguy hiểm đến tính mạng. Vì những lậu hoặc phiền muộn và bức bối có thể khởi lên ở người sống không chịu đựng những điều này sẽ không khởi lên khi chúng được chịu đựng. Đây được gọi là những lậu hoặc cần được từ bỏ bằng sự kham nhẫn.
Và những lậu hoặc nào cần được từ bỏ bằng sự tránh né? Hãy xem trường hợp một vị Tỳ kheo, như lý tác ý, tránh né voi dữ, ngựa hoang, bò hoang, chó dữ, rắn, gốc cây, nơi gai góc, hố sâu, vách đá, đầm lầy, và cống rãnh. Như lý tác ý, vị ấy tránh ngồi ở những chỗ không thích hợp, đi vào những khu vực không thích hợp, và giao du với bạn xấu---bất cứ điều gì mà những người bạn đồng tu có trí tuệ tin là môi trường xấu. Vì những lậu hoặc phiền muộn và bức bối có thể khởi lên ở người sống không tránh né những điều này sẽ không khởi lên khi chúng được tránh né. Đây được gọi là những lậu hoặc cần được từ bỏ bằng sự tránh né.
Và những lậu hoặc nào cần được từ bỏ bằng sự trừ diệt? Hãy xem trường hợp một vị Tỳ kheo, như lý tác ý, không dung thứ một ý nghĩ tham dục (sensual thought / suy nghĩ về ham muốn), ý nghĩ ác ý (malicious thought / suy nghĩ có hại), hay ý nghĩ tàn ác (cruel thought / suy nghĩ độc ác) đã khởi lên. Vị ấy không dung thứ bất kỳ phẩm chất xấu ác, bất thiện (bad, unskillful qualities / những tính chất không tốt, không khéo léo) nào đã khởi lên, mà từ bỏ chúng, trừ diệt chúng, loại bỏ chúng, và xóa sạch chúng. Vì những lậu hoặc phiền muộn và bức bối có thể khởi lên ở người sống không trừ diệt những điều này sẽ không khởi lên khi chúng được trừ diệt. Đây được gọi là những lậu hoặc cần được từ bỏ bằng sự trừ diệt.
Và những lậu hoặc nào cần được từ bỏ bằng sự tu tập? Hãy xem trường hợp một vị Tỳ kheo, như lý tác ý, phát triển các yếu tố giác ngộ (awakening factors / thất giác chi) là tỉnh thức (mindfulness / niệm), trạch pháp (investigation of principles / điều tra các nguyên lý), siêng năng (energy / tấn), vui vẻ (rapture / hỷ), an tịnh (tranquility / khinh an), định tâm (immersion / định), và xả (equanimity / sự bình tâm), dựa trên ly dục (seclusion / sự xa lìa), ly tham (fading away / sự phai nhạt ham muốn), và đoạn diệt (cessation / sự chấm dứt), và chín muồi thành sự buông bỏ (letting go / sự xả ly). Vì những lậu hoặc phiền muộn và bức bối có thể khởi lên ở người sống không phát triển những điều này sẽ không khởi lên khi chúng được phát triển. Đây được gọi là những lậu hoặc cần được từ bỏ bằng sự tu tập.
Một vị Tỳ kheo có sáu phẩm chất này thì xứng đáng nhận lễ vật cúng dường chư thiên, xứng đáng được tiếp đãi, xứng đáng nhận vật cúng dường, xứng đáng được đảnh lễ chắp tay, và là ruộng phước tối thượng cho đời."
AN 6.59 Kinh Dārukammika
TÔI NGHE NHƯ VẦY. Một thời Đức Phật trú tại Ñātika trong ngôi nhà gạch.
Bấy giờ, gia chủ Dārukammika đến gặp Đức Phật, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với ông: "Này gia chủ, Ta tự hỏi liệu gia đình ông có cúng dường không?"
"Bạch Thế Tôn, có ạ. Con cúng dường cho những vị Tỳ kheo là bậc A-la-hán hoặc đang trên đường đến quả vị A-la-hán; các vị ấy sống trong rừng (wilderness / nơi hoang dã), chỉ ăn vật thực khất thực (almsfood / đồ ăn xin được), và mặc y phấn tảo (rag robes / y làm từ vải vụn nhặt được)."
"Này gia chủ, là một cư sĩ (layman / người tại gia) hưởng thụ dục lạc (sensual pleasures / thú vui giác quan), sống ở nhà với con cái, dùng gỗ đàn hương nhập từ Kāsi, đeo vòng hoa, dùng hương thơm và đồ trang điểm, và nhận vàng bạc tiền tệ, thật khó cho ông để biết ai là bậc A-la-hán hay đang trên đường đến quả vị A-la-hán.
Nếu một vị Tỳ kheo sống trong rừng mà bồn chồn lo lắng (restless / trạo cử), xấc láo (insolent / ngạo mạn), hay thay đổi (fickle / không kiên định), nói lời thô tục (scurrilous / nói lời ác khẩu), lắm lời (loose-tongued / nói nhiều lời vô ích), thiếu tỉnh thức (unmindful / thất niệm), thiếu nhận thức tình huống (situational awareness / tỉnh giác) và định tâm (immersion / định), với tâm lang thang (straying mind / tâm phóng dật) và các căn không được kiểm soát (undisciplined faculties / các giác quan buông thả), thì về mặt này, vị ấy đáng bị chê trách (reprehensible / khiển trách). Nếu một vị Tỳ kheo sống trong rừng mà không bồn chồn lo lắng, xấc láo, hay thay đổi, nói lời thô tục, hay lắm lời, mà đã thiết lập tỉnh thức (established mindfulness / niệm), nhận thức tình huống và định tâm, với tâm hợp nhất (unified mind / tâm chuyên nhất) và các căn được thu thúc (restrained faculties / các giác quan được kiểm soát), thì về mặt này, vị ấy đáng được khen ngợi (praiseworthy / tán dương).
Nếu một vị Tỳ kheo sống trong làng mà bồn chồn lo lắng... thì về mặt này, vị ấy đáng bị chê trách. Nếu một vị Tỳ kheo sống trong làng mà không bồn chồn lo lắng... thì về mặt này, vị ấy đáng được khen ngợi.
Nếu một vị Tỳ kheo chỉ ăn vật thực khất thực mà bồn chồn lo lắng... thì về mặt này, vị ấy đáng bị chê trách. Nếu một vị Tỳ kheo chỉ ăn vật thực khất thực mà không bồn chồn lo lắng... thì về mặt này, vị ấy đáng được khen ngợi.
Nếu một vị Tỳ kheo nhận lời mời (dùng bữa) mà bồn chồn lo lắng... thì về mặt này, vị ấy đáng bị chê trách. Nếu một vị Tỳ kheo nhận lời mời mà không bồn chồn lo lắng... thì về mặt này, vị ấy đáng được khen ngợi.
Nếu một vị Tỳ kheo mặc y phấn tảo mà bồn chồn lo lắng... thì về mặt này, vị ấy đáng bị chê trách. Nếu một vị Tỳ kheo mặc y phấn tảo mà không bồn chồn lo lắng... thì về mặt này, vị ấy đáng được khen ngợi.
Nếu một vị Tỳ kheo mặc y do gia chủ cúng dường mà bồn chồn lo lắng, xấc láo, hay thay đổi, nói lời thô tục, lắm lời, thiếu tỉnh thức, thiếu nhận thức tình huống và định tâm, với tâm lang thang và các căn không được kiểm soát, thì về mặt này, vị ấy đáng bị chê trách. Nếu một vị Tỳ kheo mặc y do gia chủ cúng dường mà không bồn chồn lo lắng, xấc láo, hay thay đổi, nói lời thô tục, hay lắm lời, mà đã thiết lập tỉnh thức, nhận thức tình huống và định tâm, với tâm hợp nhất và các căn được thu thúc, thì về mặt này, vị ấy đáng được khen ngợi.
Này gia chủ, hãy cứ cúng dường cho Tăng đoàn (Saṅgha / cộng đồng Tỳ kheo). Tâm ông sẽ trở nên sáng suốt và trong sạch, và khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, ông sẽ được tái sanh vào cõi lành, cõi trời."
"Bạch Thế Tôn, từ hôm nay trở đi, con sẽ cúng dường cho Tăng đoàn."
AN 6.60 Kinh Hatthisāriputta
TÔI NGHE NHƯ VẦY. Một thời Đức Phật trú gần thành Varanasi (Ba-la-nại), tại Vườn Nai ở Isipatana.
Lúc bấy giờ, một số vị Tỳ kheo trưởng lão (senior mendicants / Tỳ kheo lớn tuổi, có hạ lạp cao), sau bữa ăn, trên đường từ khất thực trở về, ngồi lại với nhau trong đình và bàn luận về giáo pháp (teachings / lời dạy của Đức Phật). Tôn giả Citta Hatthisāriputta đã ngắt lời họ khi họ đang nói chuyện.
Bấy giờ, Tôn giả Mahākoṭṭhita nói với Tôn giả Citta Hatthisāriputta: "Thưa Tôn giả, xin đừng ngắt lời các vị Tỳ kheo trưởng lão khi họ đang bàn luận về giáo pháp. Hãy đợi cho đến khi cuộc thảo luận kết thúc."
Khi Tôn giả nói vậy, các bạn đồng tu của Citta Hatthisāriputta nói với Mahākoṭṭhita: "Thưa Tôn giả, xin đừng khiển trách Citta Hatthisāriputta. Thầy ấy rất sắc sảo, và hoàn toàn có khả năng bàn luận về giáo pháp với các vị Tỳ kheo trưởng lão."
"Thưa các Tôn giả, không dễ để biết điều này, đối với những người không thấu hiểu tâm người khác (comprehend another's mind / biết được tâm của người khác).
Hãy xem một người ngọt ngào nhất trong những người ngọt ngào, ôn hòa nhất trong những người ôn hòa, bình tĩnh nhất trong những người bình tĩnh, miễn là họ sống nương tựa vào Đạo sư (Teacher / bậc thầy, chỉ Đức Phật) hoặc một người bạn đồng tu (spiritual companion / bạn tu) đóng vai trò như một người thầy. Nhưng khi họ xa rời Đạo sư hoặc người bạn đồng tu đóng vai trò như một người thầy, họ giao du thân cận với các Tỳ kheo (monks / nam tu sĩ), Tỳ kheo ni (nuns / nữ tu sĩ), nam cư sĩ (laymen / nam tín đồ tại gia), và nữ cư sĩ (laywomen / nữ tín đồ tại gia); với các vua chúa (rulers / người cai trị) và các đại thần (chief ministers / quan chức cấp cao), và với các tu sĩ ngoại đạo (monastics of other religions / người tu theo tôn giáo khác) và đệ tử của họ. Khi giao du thân cận, họ trở nên thân mật và buông thả, dành thời gian tán gẫu, và do đó dục vọng (lust / ham muốn nhục dục) xâm chiếm tâm trí họ. Họ từ bỏ việc tu tập (resign the training / hoàn tục) và trở về đời sống thấp hơn (return to a lesser life / quay lại cuộc sống thế tục).
Giả sử một con bò thích ăn lúa bị buộc lại hoặc nhốt trong chuồng. Liệu có đúng khi nói rằng con bò đó sẽ không bao giờ xâm nhập vào ruộng lúa nữa không?"
"Thưa Tôn giả, không đúng. Vì rất có thể con bò đó sẽ giật đứt dây hoặc phá chuồng, rồi xâm nhập vào ruộng lúa."
"Cũng vậy, hãy xem một người ngọt ngào nhất trong những người ngọt ngào... Khi giao du thân cận, họ trở nên thân mật và buông thả, dành thời gian tán gẫu, và do đó dục vọng xâm chiếm tâm trí họ. Họ từ bỏ việc tu tập và trở về đời sống thấp hơn.
Và hãy xem một người, hoàn toàn ly dục lạc (sensual pleasures / thú vui giác quan)... nhập và an trú vào sơ thiền (first absorption / tầng thiền thứ nhất). Nghĩ rằng, 'Ta đắc sơ thiền!' họ giao du thân cận với các Tỳ kheo... Họ từ bỏ việc tu tập và trở về đời sống thấp hơn.
Giả sử trời mưa lớn ở ngã tư đường khiến bụi biến mất và bùn xuất hiện. Liệu có đúng khi nói rằng bây giờ bụi sẽ không bao giờ xuất hiện ở ngã tư này nữa không?"
"Thưa Tôn giả, không đúng. Vì rất có thể người hoặc gia súc v.v... sẽ đi qua ngã tư, hoặc gió và mặt trời sẽ làm bay hơi ẩm để bụi lại xuất hiện."
"Cũng vậy, hãy xem một người, hoàn toàn ly dục lạc... nhập và an trú vào sơ thiền. Nghĩ rằng, 'Ta đắc sơ thiền!' họ giao du thân cận với các Tỳ kheo... Họ từ bỏ việc tu tập và trở về đời sống thấp hơn.
Và hãy xem một người, khi tầm (placing of the mind / sự hướng tâm đến đối tượng) và tứ (keeping it connected / sự duy trì tâm trên đối tượng) lắng dịu... nhập và an trú vào nhị thiền (second absorption / tầng thiền thứ hai). Nghĩ rằng, 'Ta đắc nhị thiền!' họ giao du thân cận với các Tỳ kheo... Họ từ bỏ việc tu tập và trở về đời sống thấp hơn.
Giả sử có một cái ao lớn không xa thị trấn hoặc làng mạc. Sau khi trời mưa lớn, sò, hến, sỏi và đá cuội sẽ biến mất. Liệu có đúng khi nói rằng bây giờ sò, hến, sỏi và đá cuội sẽ không bao giờ xuất hiện ở đây nữa không?"
"Thưa Tôn giả, không đúng. Vì rất có thể người hoặc gia súc v.v... sẽ uống nước từ ao, hoặc gió và mặt trời sẽ làm bay hơi nước để sò, hến, sỏi và đá cuội lại xuất hiện."
"Cũng vậy, hãy xem một người, khi tầm và tứ lắng dịu... nhập và an trú vào nhị thiền. Nghĩ rằng, 'Ta đắc nhị thiền!' họ giao du thân cận với các Tỳ kheo... Họ từ bỏ việc tu tập và trở về đời sống thấp hơn.
Và hãy xem một người, với sự phai nhạt của niềm vui (fading away of rapture / hỷ phai đi)... nhập và an trú vào tam thiền (third absorption / tầng thiền thứ ba). Nghĩ rằng, 'Ta đắc tam thiền!' họ giao du thân cận với các Tỳ kheo... Họ từ bỏ việc tu tập và trở về đời sống thấp hơn.
Giả sử một người vừa ăn xong một bữa ăn ngon. Họ sẽ không còn thèm ăn đồ thừa nữa. Liệu có đúng khi nói rằng bây giờ thức ăn sẽ không bao giờ hấp dẫn người này nữa không?"
"Thưa Tôn giả, không đúng. Vì rất có thể thức ăn khác sẽ không hấp dẫn người đó chừng nào chất dinh dưỡng vẫn còn. Nhưng khi chất dinh dưỡng biến mất, thức ăn sẽ lại hấp dẫn."
"Cũng vậy, hãy xem một người, với sự phai nhạt của niềm vui... nhập và an trú vào tam thiền. Nghĩ rằng, 'Ta đắc tam thiền!' họ giao du thân cận với các Tỳ kheo... Họ từ bỏ việc tu tập và trở về đời sống thấp hơn.
Và hãy xem một người, từ bỏ an vui (pleasure / lạc) và khổ (pain / đau khổ)... nhập và an trú vào tứ thiền (fourth absorption / tầng thiền thứ tư). Nghĩ rằng, 'Ta đắc tứ thiền!' họ giao du thân cận với các Tỳ kheo... Họ từ bỏ việc tu tập và trở về đời sống thấp hơn.
Giả sử trong một thung lũng núi có một hồ nước phẳng lặng, không gợn sóng. Liệu có đúng khi nói rằng bây giờ sóng sẽ không bao giờ xuất hiện trong hồ này nữa không?"
"Thưa Tôn giả, không đúng. Vì rất có thể một cơn bão dữ dội có thể thổi lên từ phương đông, tây, bắc, hoặc nam, và khuấy động sóng trong hồ đó."
"Cũng vậy, hãy xem một người, từ bỏ an vui và khổ... nhập và an trú vào tứ thiền. Nghĩ rằng, 'Ta đắc tứ thiền!' họ giao du thân cận với các Tỳ kheo... Họ từ bỏ việc tu tập và trở về đời sống thấp hơn.
Và hãy xem một người, không chú tâm vào bất kỳ tướng (signs / dấu hiệu, đặc điểm của đối tượng thiền) nào, nhập và an trú vào vô tướng tâm định (signless immersion of the heart / trạng thái định tâm không có đối tượng). Nghĩ rằng, 'Ta đắc vô tướng tâm định!' họ giao du thân cận với các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, nam cư sĩ, và nữ cư sĩ; với các vua chúa và đại thần, và với các tu sĩ ngoại đạo và đệ tử của họ. Khi giao du thân cận, họ trở nên thân mật và buông thả, dành thời gian tán gẫu, và do đó dục vọng xâm chiếm tâm trí họ. Họ từ bỏ việc tu tập và trở về đời sống thấp hơn.
Giả sử một vị vua hoặc đại thần của họ, trong khi đi dọc đường với một đội quân bốn binh chủng, đến một khu rừng và cắm trại qua đêm ở đó. Ở đó, vì tiếng ồn của voi, ngựa, xe, binh lính, và tiếng trống, trống trận, tù và, và chũm chọe, tiếng dế kêu sẽ biến mất. Liệu có đúng khi nói rằng bây giờ tiếng dế kêu sẽ không bao giờ được nghe thấy trong khu rừng này nữa không?"
"Thưa Tôn giả, không đúng. Vì rất có thể vị vua hoặc đại thần của họ sẽ rời khỏi khu rừng đó để tiếng dế kêu lại được nghe thấy ở đó."
"Cũng vậy, hãy xem một người, không chú tâm vào bất kỳ tướng nào, nhập và an trú vào vô tướng tâm định... Họ từ bỏ việc tu tập và trở về đời sống thấp hơn."
Sau một thời gian, Tôn giả Citta Hatthisāriputta từ bỏ việc tu tập và trở về đời sống thấp hơn. Bấy giờ, các Tỳ kheo là bạn đồng tu của Tôn giả đến gặp Tôn giả Mahākoṭṭhita và nói: "Có phải Tôn giả Mahākoṭṭhita đã thấu hiểu tâm của Citta Hatthisāriputta và biết rằng thầy ấy đã đạt được những chứng đắc thiền định (meditative attainments / thành tựu trong thiền) như vậy, nhưng vẫn sẽ từ bỏ việc tu tập và trở về đời sống thấp hơn không? Hay là chư thiên đã nói cho Tôn giả biết về điều đó?"
"Thưa các Tôn giả, tôi đã thấu hiểu tâm của thầy ấy và biết điều này. Và chư thiên cũng đã nói cho tôi biết."
Bấy giờ, các Tỳ kheo là bạn đồng tu của Citta Hatthisāriputta đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và thưa: "Bạch Thế Tôn, Citta Hatthisāriputta, người đã đạt được những chứng đắc thiền định như vậy, vẫn đã từ bỏ việc tu tập và trở về đời sống thấp hơn."
"Này các Tỳ kheo, chẳng bao lâu nữa Citta sẽ nhớ đến sự ly dục (renunciation / sự từ bỏ)."
Và không lâu sau, Citta Hatthisāriputta cạo bỏ râu tóc, đắp y vàng, từ bỏ đời sống thế tục, xuất gia sống không nhà cửa. Rồi Citta Hatthisāriputta, sống một mình, ẩn dật, chuyên cần (diligent / siêng năng), nhiệt tâm (keen / hăng hái), và quyết chí (resolute / kiên định), không bao lâu đã chứng ngộ được mục đích tối thượng của đời sống phạm hạnh (supreme culmination of the spiritual path / đỉnh cao của con đường tu tập) ngay trong đời này. Tôn giả sống, đã thành tựu bằng trí tuệ (insight / tuệ giác) của chính mình mục tiêu mà vì đó các thiện nam tử chân chính từ bỏ đời sống thế tục, xuất gia sống không nhà cửa.
Tôn giả hiểu rõ: "Sanh (Rebirth / tái sinh) đã tận; đời sống phạm hạnh (spiritual journey / con đường tu tập) đã hoàn thành; những gì cần làm đã làm; không còn trở lui trạng thái này nữa." Và Tôn giả Citta Hatthisāriputta trở thành một trong những bậc A-la-hán (perfected / người đã hoàn thiện).
AN 6.61 Kinh Ở Giữa (Majjhesutta)
TÔI NGHE NHƯ VẦY. Một thời Đức Phật trú gần thành Varanasi, tại Vườn Nai ở Isipatana.
Lúc bấy giờ, sau bữa ăn, trên đường từ khất thực trở về, một số vị Tỳ kheo trưởng lão ngồi lại với nhau trong đình và cuộc thảo luận này đã nảy sinh giữa họ: "Thưa các Tôn giả, điều này đã được Đức Phật nói trong 'Con Đường Đến Bờ Kia' (Pārāyanavagga), trong 'Những Câu Hỏi của Metteyya':
'Người trí tuệ (thoughtful one / bậc có suy xét, có trí tuệ) đã biết cả hai đầu (ends / cực đoan),
Và không bị kẹt ở giữa (middle / trung đạo):
Vị ấy là bậc đại nhân, Ta tuyên bố,
Vị ấy đã thoát khỏi người thợ may (seamstress / chỉ tham ái) ở đây.'
Nhưng một đầu là gì? Đầu thứ hai là gì? Cái giữa là gì? Và ai là người thợ may?" Khi điều này được nói ra, một trong các vị Tỳ kheo nói với các vị Tỳ kheo trưởng lão:
"Thưa các Tôn giả, xúc (Contact / sự tiếp xúc giữa căn, trần, thức) là một đầu. Nguồn gốc của xúc (origin of contact / tập khởi của xúc) là đầu thứ hai. Sự chấm dứt của xúc (cessation of contact / diệt của xúc) là cái giữa. Và tham ái (craving / sự khao khát) là người thợ may, vì tham ái dệt nên sự tái sanh (reborn / sinh lại) của một người trong trạng thái tồn tại (state of existence / cảnh giới) này hay trạng thái tồn tại khác. Đó là cách một vị Tỳ kheo biết trực tiếp (directly knows / thắng tri) những gì cần được biết trực tiếp và hiểu hoàn toàn (completely understands / liễu tri) những gì cần được hiểu hoàn toàn. Biết và hiểu như vậy, vị ấy chấm dứt khổ (suffering / sự đau khổ) ngay trong đời này."
Khi điều này được nói ra, một trong các vị Tỳ kheo nói với các vị Tỳ kheo trưởng lão:
"Thưa các Tôn giả, quá khứ (past / thời gian đã qua) là một đầu. Tương lai (future / thời gian sắp tới) là đầu thứ hai. Hiện tại (present / thời gian đang diễn ra) là cái giữa. Và tham ái là người thợ may... Đó là cách một vị Tỳ kheo biết trực tiếp... chấm dứt khổ ngay trong đời này."
Khi điều này được nói ra, một trong các vị Tỳ kheo nói với các vị Tỳ kheo trưởng lão:
"Thưa các Tôn giả, cảm giác an vui (pleasant feeling / lạc thọ) là một đầu. Cảm giác khổ (painful feeling / khổ thọ) là đầu thứ hai. Cảm giác trung tính (neutral feeling / xả thọ, không khổ không lạc) là cái giữa. Và tham ái là người thợ may... Đó là cách một vị Tỳ kheo biết trực tiếp... chấm dứt khổ ngay trong đời này."
Khi điều này được nói ra, một trong các vị Tỳ kheo nói với các vị Tỳ kheo trưởng lão:
"Thưa các Tôn giả, danh (Name / phần tâm lý: thọ, tưởng, hành, thức) là một đầu. Sắc (Form / phần vật chất: thân thể) là đầu thứ hai. Thức (Consciousness / sự nhận biết) là cái giữa. Và tham ái là người thợ may... Đó là cách một vị Tỳ kheo biết trực tiếp... chấm dứt khổ ngay trong đời này."
Khi điều này được nói ra, một trong các vị Tỳ kheo nói với các vị Tỳ kheo trưởng lão:
"Thưa các Tôn giả, sáu nội xứ (six interior sense fields / sáu giác quan bên trong: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) là một đầu. Sáu ngoại xứ (six exterior sense fields / sáu đối tượng bên ngoài: sắc, thanh, hương, vị, xúc, pháp) là đầu thứ hai. Thức là cái giữa. Và tham ái là người thợ may... Đó là cách một vị Tỳ kheo biết trực tiếp... chấm dứt khổ ngay trong đời này."
Khi điều này được nói ra, một trong các vị Tỳ kheo nói với các vị Tỳ kheo trưởng lão:
"Thưa các Tôn giả, thân kiến (Substantial reality / thực tại có tự ngã, niềm tin vào một cái tôi thường hằng) là một đầu. Nguồn gốc của thân kiến (origin of substantial reality / tập khởi của thân kiến) là đầu thứ hai. Sự chấm dứt của thân kiến (cessation of substantial reality / diệt của thân kiến) là cái giữa. Và tham ái là người thợ may, vì tham ái dệt nên sự tái sanh của một người trong trạng thái tồn tại này hay trạng thái tồn tại khác. Đó là cách một vị Tỳ kheo biết trực tiếp những gì cần được biết trực tiếp và hiểu hoàn toàn những gì cần được hiểu hoàn toàn. Biết và hiểu như vậy, vị ấy chấm dứt khổ ngay trong đời này."
Khi điều này được nói ra, một trong các vị Tỳ kheo nói với các vị Tỳ kheo trưởng lão:
"Mỗi người chúng ta đã nói lên từ tấm lòng. Nào, thưa các Tôn giả, chúng ta hãy đến gặp Đức Phật và trình bày với Ngài về điều này. Ngài trả lời thế nào, chúng ta sẽ ghi nhớ như vậy."
"Thưa Tôn giả, vâng ạ," các vị Tỳ kheo trưởng lão đó đáp. Sau đó, các vị Tỳ kheo trưởng lão đó đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và trình bày với Đức Phật tất cả những gì họ đã thảo luận. Họ hỏi: "Bạch Thế Tôn, ai đã nói đúng?"
"Này các Tỳ kheo, tất cả các thầy đều đã nói đúng theo một cách nào đó. Tuy nhiên, đây là điều Ta muốn nói đến trong 'Con Đường Đến Bờ Kia', trong 'Những Câu Hỏi của Metteyya' khi Ta nói:
'Bậc hiền trí đã biết cả hai đầu,
Và không bị kẹt ở giữa.
Vị ấy là bậc đại nhân, Ta tuyên bố,
Vị ấy đã thoát khỏi người thợ may ở đây.'
Hãy lắng nghe và chú tâm kỹ, Ta sẽ nói."
"Bạch Thế Tôn, vâng ạ," họ đáp. Đức Phật nói điều này:
"Này các Tỳ kheo, xúc là một đầu. Nguồn gốc của xúc là đầu thứ hai. Sự chấm dứt của xúc là cái giữa. Và tham ái là người thợ may, vì tham ái dệt nên sự tái sanh của một người trong trạng thái tồn tại này hay trạng thái tồn tại khác. Đó là cách một vị Tỳ kheo biết trực tiếp những gì cần được biết trực tiếp và hiểu hoàn toàn những gì cần được hiểu hoàn toàn. Biết và hiểu như vậy, vị ấy chấm dứt khổ ngay trong đời này."
AN 6.62 Tri Kiến về Căn của Chúng Sanh (Purisindriyañāṇasutta)
TÔI NGHE NHƯ VẦY. Một thời Đức Phật đang du hành trong xứ Kosala cùng với một Tăng đoàn (Saṅgha / cộng đồng Tỳ kheo) đông đảo, khi Ngài đến một thị trấn của người Kosala tên là Daṇḍakappaka. Đức Phật rời khỏi con đường và ngồi dưới gốc cây trên chỗ đã soạn sẵn. Các Tỳ kheo vào Daṇḍakappaka để tìm nhà khách (guest house / nơi ở tạm cho khách).
Bấy giờ, Tôn giả Ānanda cùng với một số Tỳ kheo đến sông Aciravatī để tắm. Sau khi tắm xong và lên bờ, Tôn giả đứng trong một chiếc y để lau khô người.
Khi ấy, một vị Tỳ kheo nào đó đến gặp Tôn giả Ānanda và nói: "Thưa Tôn giả Ānanda, khi Đức Phật tuyên bố rằng Devadatta sẽ đi đến cõi khổ (place of loss / nơi đoạ lạc), đến địa ngục (hell / cõi thấp nhất), ở đó trong một kiếp (eon / thời gian rất dài), không thể cứu vãn (irredeemable / không thể thay đổi được), Ngài đã làm vậy sau khi suy xét toàn tâm toàn ý (wholeheartedly deliberating / cân nhắc kỹ lưỡng), hay đó chỉ là một cách nói?"
"Thầy nói đúng, thưa Tôn giả, đó là cách Đức Phật đã tuyên bố."
Sau đó, Tôn giả Ānanda đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và kể lại những gì đã xảy ra.
"Này Ānanda, vị Tỳ kheo đó hẳn là người mới tu, mới xuất gia, hoặc là một vị Tỳ kheo trưởng lão ngu si, bất tài. Làm sao mà thầy ấy có thể coi một điều Ta đã tuyên bố dứt khoát (categorically / rõ ràng, không nghi ngờ) là mơ hồ (ambiguous / không rõ ràng) được? Ta không thấy một người nào khác mà Ta đã suy xét toàn tâm toàn ý trước khi đưa ra tuyên bố như Ta đã làm trong trường hợp của Devadatta.
Chừng nào Ta còn thấy dù chỉ một phần nhỏ như đầu sợi tóc thiện lành (goodness / điều tốt) ở Devadatta, Ta đã không tuyên bố rằng ông ta sẽ đi đến cõi khổ, đến địa ngục, ở đó trong một kiếp, không thể cứu vãn. Nhưng khi Ta thấy rằng không còn dù chỉ một phần nhỏ như đầu sợi tóc thiện lành nào ở Devadatta, Ta đã tuyên bố rằng ông ta sẽ đi đến cõi khổ, đến địa ngục, ở đó trong một kiếp, không thể cứu vãn.
Giả sử có một hố phân sâu hơn chiều cao của một người đàn ông, đầy phân đến tận miệng, và có người bị chìm ngập đầu trong đó. Rồi có một người đến muốn giúp cứu họ, muốn kéo họ ra khỏi hố phân đó. Nhưng đi vòng quanh hố phân, người đó không thể thấy dù chỉ một phần nhỏ như đầu sợi tóc nào của người kia mà không bị dính phân.
Cũng vậy, khi Ta thấy rằng không còn dù chỉ một phần nhỏ như đầu sợi tóc thiện lành nào ở Devadatta, Ta đã tuyên bố rằng ông ta sẽ đi đến cõi khổ, đến địa ngục, ở đó trong một kiếp, không thể cứu vãn. Nếu tất cả các thầy lắng nghe, này Ānanda, Ta sẽ phân tích các tri kiến của Đấng Như Lai về căn (faculties / năng lực tâm linh) của chúng sanh."
"Bạch Thế Tôn, bây giờ là lúc thích hợp! Bạch Đấng Thiện Thệ, bây giờ là lúc thích hợp! Xin Đức Phật hãy phân tích các căn của chúng sanh. Các Tỳ kheo sẽ lắng nghe và ghi nhớ."
"Vậy thì, này Ānanda, hãy lắng nghe và chú tâm kỹ, Ta sẽ nói."
"Bạch Thế Tôn, vâng ạ," Ānanda đáp. Đức Phật nói điều này:
"Này Ānanda, khi Ta thấu hiểu tâm (comprehending their mind / biết rõ tâm) của một người, Ta hiểu rằng: 'Cả phẩm chất thiện (skillful qualities / những tính chất tốt đẹp, khéo léo) và bất thiện (unskillful qualities / những tính chất xấu xa, vụng về) đều có ở người này.' Sau một thời gian, Ta thấu hiểu tâm họ và hiểu rằng: 'Các phẩm chất thiện của người này đã biến mất, nhưng các phẩm chất bất thiện vẫn còn đó. Tuy nhiên, căn lành (skillful root / gốc rễ của điều thiện) của họ chưa bị đứt đoạn, và từ đó điều thiện sẽ xuất hiện. Vì vậy, người này không có khả năng suy thoái (liable to decline / có thể đi xuống) trong tương lai.' Giả sử có một số hạt giống (seeds / mầm mống) còn nguyên vẹn, không hư hỏng, không bị ảnh hưởng bởi thời tiết, màu mỡ, và được bảo quản tốt. Chúng được gieo trên một cánh đồng màu mỡ, được chuẩn bị tốt. Chẳng phải con sẽ biết rằng những hạt giống đó sẽ nảy mầm, tăng trưởng và chín muồi sao?"
"Bạch Thế Tôn, đúng vậy."
"Cũng vậy, khi Ta thấu hiểu tâm của một người, Ta hiểu... Người này không có khả năng suy thoái trong tương lai... Đây là cách Đấng Như Lai biết một cá nhân khác bằng cách thấu hiểu tâm của họ. Và đây là cách Đấng Như Lai biết các căn của một người bằng cách thấu hiểu tâm của họ. Và đây là cách Đấng Như Lai biết sự phát sinh trong tương lai (future origination / sự khởi lên sau này) của các phẩm chất của một người bằng cách thấu hiểu tâm của họ.
Khi Ta thấu hiểu tâm của một người, Ta hiểu rằng: 'Cả phẩm chất thiện và bất thiện đều có ở người này.' Sau một thời gian, Ta thấu hiểu tâm họ và hiểu rằng: 'Các phẩm chất bất thiện của người này đã biến mất, nhưng các phẩm chất thiện vẫn còn đó. Tuy nhiên, căn bất thiện (unskillful root / gốc rễ của điều ác) của họ chưa bị đứt đoạn, và từ đó điều bất thiện sẽ xuất hiện. Vì vậy, người này vẫn có khả năng suy thoái trong tương lai.' Giả sử có một số hạt giống còn nguyên vẹn, không hư hỏng, không bị ảnh hưởng bởi thời tiết, màu mỡ, và được bảo quản tốt. Và chúng được gieo trên một tảng đá rộng. Chẳng phải con sẽ biết rằng những hạt giống đó sẽ không nảy mầm, tăng trưởng và chín muồi sao?"
"Bạch Thế Tôn, đúng vậy."
"Cũng vậy, khi Ta thấu hiểu tâm của một người, Ta hiểu... Người này vẫn có khả năng suy thoái trong tương lai... Đây là cách Đấng Như Lai biết một cá nhân khác...
Khi Ta thấu hiểu tâm của một người, Ta hiểu rằng: 'Cả phẩm chất thiện và bất thiện đều có ở người này.' Sau một thời gian, Ta thấu hiểu tâm họ và hiểu rằng: 'Người này không có dù chỉ một phần nhỏ như đầu sợi tóc thiện lành. Họ chỉ có những phẩm chất đen tối, bất thiện (exclusively dark, unskillful qualities / hoàn toàn xấu xa, vụng về). Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ sẽ được tái sanh vào cõi khổ, ác xứ, địa ngục.' Giả sử có một số hạt giống bị vỡ, hư hỏng, bị ảnh hưởng bởi thời tiết. Chúng được gieo trên một cánh đồng màu mỡ, được chuẩn bị tốt. Chẳng phải con sẽ biết rằng những hạt giống đó sẽ không nảy mầm, tăng trưởng và chín muồi sao?"
"Bạch Thế Tôn, đúng vậy."
"Cũng vậy, khi Ta thấu hiểu tâm của một người, Ta hiểu... 'Người này không có dù chỉ một phần nhỏ như đầu sợi tóc thiện lành. Họ chỉ có những phẩm chất đen tối, bất thiện. Khi thân hoại mạng chung, sau khi chết, họ sẽ được tái sanh vào cõi khổ, ác xứ, địa ngục.' ..."
Khi Ngài nói điều này, Tôn giả Ānanda thưa với Đức Phật: "Bạch Thế Tôn, Ngài có thể mô tả ba người khác tương ứng với ba người này không?"
"Ta có thể, này Ānanda," Đức Phật nói. "Này Ānanda, khi Ta thấu hiểu tâm của một người, Ta hiểu rằng: 'Cả phẩm chất thiện và bất thiện đều có ở người này.' Sau một thời gian, Ta thấu hiểu tâm họ và hiểu rằng: 'Các phẩm chất thiện của người này đã biến mất, nhưng các phẩm chất bất thiện vẫn còn đó. Tuy nhiên, căn lành của họ chưa bị đứt đoạn, nhưng sắp bị hủy diệt hoàn toàn. Vì vậy, người này vẫn có khả năng suy thoái trong tương lai.' Giả sử có một ít than hồng đang cháy, rực lửa và sáng rực. Và chúng được đặt trên một tảng đá rộng. Chẳng phải con sẽ biết rằng những cục than đó sẽ không lớn lên, tăng trưởng và lan rộng sao?"
"Bạch Thế Tôn, đúng vậy."
"Hoặc giả sử trời đã về chiều và mặt trời đang lặn. Chẳng phải con sẽ biết rằng ánh sáng sắp biến mất và bóng tối xuất hiện sao?"
"Bạch Thế Tôn, đúng vậy."
"Hoặc giả sử sắp đến giờ ăn nửa đêm. Chẳng phải con sẽ biết rằng ánh sáng đã biến mất và bóng tối đã xuất hiện sao?"
"Bạch Thế Tôn, đúng vậy."
"Cũng vậy, khi Ta thấu hiểu tâm của một người, Ta hiểu... Người này vẫn có khả năng suy thoái trong tương lai...
Khi Ta thấu hiểu tâm của một người, Ta hiểu rằng: 'Cả phẩm chất thiện và bất thiện đều có ở người này.' Sau một thời gian, Ta thấu hiểu tâm họ và hiểu rằng: 'Các phẩm chất bất thiện của người này đã biến mất, nhưng các phẩm chất thiện vẫn còn đó. Tuy nhiên, căn bất thiện của họ chưa bị đứt đoạn, nhưng sắp bị hủy diệt hoàn toàn. Vì vậy, người này không có khả năng suy thoái trong tương lai.' Giả sử có một ít than hồng đang cháy, rực lửa và sáng rực. Chúng được đặt trên một đống cỏ hoặc gỗ. Chẳng phải con sẽ biết rằng những cục than đó sẽ lớn lên, tăng trưởng và lan rộng sao?"
"Bạch Thế Tôn, đúng vậy."
"Giả sử trời vừa rạng đông và mặt trời đang mọc. Chẳng phải con sẽ biết rằng bóng tối sẽ biến mất và ánh sáng xuất hiện sao?"
"Bạch Thế Tôn, đúng vậy."
"Hoặc giả sử sắp đến giờ ăn trưa. Chẳng phải con sẽ biết rằng bóng tối đã biến mất và ánh sáng đã xuất hiện sao?"
"Bạch Thế Tôn, đúng vậy."
"Cũng vậy, khi Ta thấu hiểu tâm của một người, Ta hiểu... Người này không có khả năng suy thoái trong tương lai...
Khi Ta thấu hiểu tâm của một người, Ta hiểu rằng: 'Cả phẩm chất thiện và bất thiện đều có ở người này.' Sau một thời gian, Ta thấu hiểu tâm họ và hiểu rằng: 'Người này không có dù chỉ một phần nhỏ như đầu sợi tóc bất thiện. Họ chỉ có những phẩm chất sáng sủa, không tỳ vết (exclusively bright, blameless qualities / hoàn toàn tốt đẹp, không có lỗi lầm). Họ sẽ nhập diệt (become extinguished / đạt Niết-bàn) ngay trong đời này.' Giả sử có một ít than nguội, đã tắt. Chúng được đặt trên một đống cỏ hoặc gỗ. Chẳng phải con sẽ biết rằng những cục than đó sẽ không lớn lên, tăng trưởng và lan rộng sao?"
"Bạch Thế Tôn, đúng vậy."
"Cũng vậy, khi Ta thấu hiểu tâm của một người, Ta hiểu... 'Người này không có dù chỉ một phần nhỏ như đầu sợi tóc bất thiện. Họ chỉ có những phẩm chất sáng sủa, không tỳ vết. Họ sẽ nhập diệt ngay trong đời này.' Đây là cách Đấng Như Lai biết một cá nhân khác bằng cách thấu hiểu tâm của họ. Và đây là cách Đấng Như Lai biết các căn của một người bằng cách thấu hiểu tâm của họ. Và đây là cách Đấng Như Lai biết sự phát sinh trong tương lai của các phẩm chất của một người bằng cách thấu hiểu tâm của họ.
Và như vậy, này Ānanda, trong ba người đầu tiên, một người không có khả năng suy thoái, một người có khả năng suy thoái, và một người chắc chắn sẽ đến cõi khổ, địa ngục. Và trong ba người thứ hai, một người có khả năng suy thoái, một người không có khả năng suy thoái, và một người chắc chắn sẽ nhập diệt."
AN 6.63 Kinh Thâm Nhập (Nibbedhikasutta)
"Này các Tỳ kheo, Ta sẽ giảng cho các thầy một bài pháp thâm nhập (penetrative exposition / bài giảng đi sâu vào bản chất). Hãy lắng nghe và chú tâm kỹ, Ta sẽ nói."
"Bạch Thế Tôn, vâng ạ," họ đáp. Đức Phật nói điều này:
"Này các Tỳ kheo, bài pháp thâm nhập là gì? Dục lạc (Sensual pleasures / thú vui giác quan) cần được biết rõ. Và nguồn gốc (source / tập khởi), tính đa dạng (diversity / sự khác biệt), kết quả (result / quả báo), sự chấm dứt (cessation / sự diệt), và con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt (practice that leads to their cessation / đạo đế) của chúng cần được biết rõ.
Cảm thọ (Feelings / cảm giác) cần được biết rõ. Và nguồn gốc, tính đa dạng, kết quả, sự chấm dứt, và con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt của chúng cần được biết rõ.
Nhận thức (Perceptions / tưởng, nhận ra) cần được biết rõ. Và nguồn gốc, tính đa dạng, kết quả, sự chấm dứt, và con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt của chúng cần được biết rõ.
Lậu hoặc (Defilements / phiền não) cần được biết rõ. Và nguồn gốc, tính đa dạng, kết quả, sự chấm dứt, và con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt của chúng cần được biết rõ.
Nghiệp (Deeds / hành động có chủ ý) cần được biết rõ. Và nguồn gốc, tính đa dạng, kết quả, sự chấm dứt, và con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt của chúng cần được biết rõ.
Khổ (Suffering / sự đau khổ) cần được biết rõ. Và nguồn gốc, tính đa dạng, kết quả, sự chấm dứt, và con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt của nó cần được biết rõ.
'Dục lạc cần được biết rõ. Và nguồn gốc, tính đa dạng, kết quả, sự chấm dứt, và con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt của chúng cần được biết rõ.' Đó là điều Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Có năm loại kích thích giác quan (sensual stimulation / đối tượng làm khởi sinh ham muốn) này. Sắc (Sights / hình ảnh) được biết bởi mắt, ưa thích (likable / đáng thích), mong muốn (desirable / đáng khao khát), dễ chịu (agreeable / vừa ý), an vui (pleasant / vui thích), thuộc về giác quan (sensual / liên quan đến các căn), và kích thích (arousing / gợi lên ham muốn). Thanh (Sounds / âm thanh) được biết bởi tai... Hương (Smells / mùi) được biết bởi mũi... Vị (Tastes / vị nếm) được biết bởi lưỡi... Xúc (Touches / sự chạm) được biết bởi thân, ưa thích, mong muốn, dễ chịu, an vui, thuộc về giác quan, và kích thích. Tuy nhiên, đây không phải là dục lạc. Trong sự tu tập của bậc Thánh (training of the Noble One / con đường thực hành của bậc giác ngộ), chúng được gọi là 'các loại kích thích giác quan'.
Ý định tham lam (Greedy intention / tác ý tham ái) là dục lạc của con người.
Những thứ đẹp đẽ của thế gian không phải là dục lạc.
Ý định tham lam là dục lạc của con người.
Những thứ đẹp đẽ của thế gian vẫn y nguyên như vậy,
nhưng người chú tâm loại bỏ ham muốn đối với chúng.
Và nguồn gốc của dục lạc là gì? Xúc (Contact / sự tiếp xúc) là nguồn gốc của chúng.
Và tính đa dạng của dục lạc là gì? Ham muốn dục lạc (sensual desire / lòng khao khát) đối với sắc, thanh, hương, vị, và xúc đều khác nhau. Đây được gọi là tính đa dạng của dục lạc.
Và kết quả của dục lạc là gì? Khi người ham muốn dục lạc tạo ra một sự hóa sanh (incarnation / sự hiện hữu) tương ứng, tham gia vào nghiệp tốt hoặc xấu (good or bad deeds / hành động thiện hoặc ác)---đây được gọi là kết quả của dục lạc.
Và sự chấm dứt của dục lạc là gì? Khi xúc chấm dứt, dục lạc chấm dứt. Con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt dục lạc chính là con đường tám ngành cao quý (noble eightfold path / Bát Chánh Đạo) này, đó là: chánh kiến (right view / hiểu biết đúng đắn), chánh tư duy (right thought / suy nghĩ đúng đắn), chánh ngữ (right speech / lời nói đúng đắn), chánh nghiệp (right action / hành động đúng đắn), chánh mạng (right livelihood / nuôi mạng đúng đắn), chánh tinh tấn (right effort / cố gắng đúng đắn), chánh niệm (right mindfulness / tỉnh thức đúng đắn), và chánh định (right immersion / định tâm đúng đắn).
Khi một vị Thánh đệ tử (noble disciple / người đệ tử đã chứng ngộ) hiểu dục lạc theo cách này---và hiểu nguồn gốc, tính đa dạng, kết quả, sự chấm dứt, và con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt của chúng---vị ấy hiểu rằng đời sống phạm hạnh thâm nhập này là sự chấm dứt của dục lạc. 'Dục lạc cần được biết rõ. Và nguồn gốc, tính đa dạng, kết quả, sự chấm dứt, và con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt của chúng cần được biết rõ.' Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.
'Cảm thọ cần được biết rõ. Và nguồn gốc, tính đa dạng, kết quả, sự chấm dứt, và con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt của chúng cần được biết rõ.' Đó là điều Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Có ba loại cảm thọ này: an vui (pleasant / lạc), khổ (painful / khổ), và trung tính (neutral / xả).
Và nguồn gốc của cảm thọ là gì? Xúc là nguồn gốc của chúng.
Và tính đa dạng của cảm thọ là gì? Có cảm thọ an vui thuộc về thể xác (pleasant feelings of the flesh / lạc thọ liên quan đến thân), cảm thọ an vui không thuộc về thể xác (pleasant feelings not of the flesh / lạc thọ không liên quan đến thân), cảm thọ khổ thuộc về thể xác (painful feelings of the flesh / khổ thọ liên quan đến thân), cảm thọ khổ không thuộc về thể xác (painful feelings not of the flesh / khổ thọ không liên quan đến thân), cảm thọ trung tính thuộc về thể xác (neutral feelings of the flesh / xả thọ liên quan đến thân), và cảm thọ trung tính không thuộc về thể xác (neutral feelings not of the flesh / xả thọ không liên quan đến thân). Đây được gọi là tính đa dạng của cảm thọ.
Và kết quả của cảm thọ là gì? Khi người có cảm thọ tạo ra một sự hóa sanh tương ứng, tham gia vào nghiệp tốt hoặc xấu---đây được gọi là kết quả của cảm thọ.
Và sự chấm dứt của cảm thọ là gì? Khi xúc chấm dứt, cảm thọ chấm dứt. Con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt cảm thọ chính là con đường tám ngành cao quý này, đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định.
Khi một vị Thánh đệ tử hiểu cảm thọ theo cách này... vị ấy hiểu rằng đời sống phạm hạnh thâm nhập này là sự chấm dứt của cảm thọ. 'Cảm thọ cần được biết rõ. Và nguồn gốc, tính đa dạng, kết quả, sự chấm dứt, và con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt của chúng cần được biết rõ.' Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.
'Nhận thức cần được biết rõ. Và nguồn gốc, tính đa dạng, kết quả, sự chấm dứt, và con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt của chúng cần được biết rõ.' Đó là điều Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Có sáu loại nhận thức này: nhận thức về sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp (perceptions of sights, sounds, smells, tastes, touches, and ideas / tưởng về hình ảnh, âm thanh, mùi, vị, sự chạm, và đối tượng của ý).
Và nguồn gốc của nhận thức là gì? Xúc là nguồn gốc của chúng.
Và tính đa dạng của nhận thức là gì? Nhận thức về sắc, thanh, hương, vị, xúc, và pháp đều khác nhau. Đây được gọi là tính đa dạng của nhận thức.
Và kết quả của nhận thức là gì? Sự giao tiếp (Communication / sự diễn đạt, giao tiếp) là kết quả của nhận thức, Ta nói vậy. Con giao tiếp điều gì đó theo cách con nhận thức nó, nói rằng 'Đó là những gì tôi đã nhận thức.' Đây được gọi là kết quả của nhận thức.
Và sự chấm dứt của nhận thức là gì? Khi xúc chấm dứt, nhận thức chấm dứt. Con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt nhận thức chính là con đường tám ngành cao quý này, đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định.
Khi một vị Thánh đệ tử hiểu nhận thức theo cách này... vị ấy hiểu rằng đời sống phạm hạnh thâm nhập này là sự chấm dứt của nhận thức. 'Nhận thức cần được biết rõ. Và nguồn gốc, tính đa dạng, kết quả, sự chấm dứt, và con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt của chúng cần được biết rõ.' Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.
'Lậu hoặc cần được biết rõ. Và nguồn gốc, tính đa dạng, kết quả, sự chấm dứt, và con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt của chúng cần được biết rõ.' Đó là điều Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Có ba loại lậu hoặc này: dục lậu (defilements of sensuality / lậu hoặc do ham muốn dục lạc), hữu lậu (desire to be reborn / lậu hoặc do ham muốn tái sanh), và vô minh lậu (ignorance / lậu hoặc do sự không biết).
Và nguồn gốc của lậu hoặc là gì? Vô minh (Ignorance / sự không biết) là nguồn gốc của lậu hoặc.
Và tính đa dạng của lậu hoặc là gì? Có những lậu hoặc dẫn đến tái sanh vào địa ngục, cõi súc sanh, cõi ngạ quỷ, cõi người, và cõi trời (rebirth in hell, the animal realm, the ghost realm, the human world, and the world of the gods / các cảnh giới khác nhau). Đây được gọi là tính đa dạng của lậu hoặc.
Và kết quả của lậu hoặc là gì? Khi người vô minh tạo ra một sự hóa sanh tương ứng, tham gia vào nghiệp tốt hoặc xấu---đây được gọi là kết quả của lậu hoặc.
Và sự chấm dứt của lậu hoặc là gì? Khi vô minh chấm dứt, lậu hoặc chấm dứt. Con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt lậu hoặc chính là con đường tám ngành cao quý này, đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định.
Khi một vị Thánh đệ tử hiểu lậu hoặc theo cách này... vị ấy hiểu rằng đời sống phạm hạnh thâm nhập này là sự chấm dứt của lậu hoặc. 'Lậu hoặc cần được biết rõ. Và nguồn gốc, tính đa dạng, kết quả, sự chấm dứt, và con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt của chúng cần được biết rõ.' Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.
'Nghiệp cần được biết rõ. Và nguồn gốc, tính đa dạng, kết quả, sự chấm dứt, và con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt của chúng cần được biết rõ.' Đó là điều Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Chính tác ý (intention / chủ đích, ý muốn) là cái Ta gọi là nghiệp. Vì sau khi lựa chọn, người ta hành động qua thân, khẩu, và ý (acts by way of body, speech, and mind / tạo nghiệp qua hành động, lời nói và suy nghĩ).
Và nguồn gốc của nghiệp là gì? Xúc là nguồn gốc của chúng.
Và tính đa dạng của nghiệp là gì? Có những nghiệp dẫn đến tái sanh vào địa ngục, cõi súc sanh, cõi ngạ quỷ, cõi người, và cõi trời. Đây được gọi là tính đa dạng của nghiệp.
Và kết quả của nghiệp là gì? Kết quả của nghiệp có ba loại, Ta nói vậy: ngay trong đời này (in this very life / hiện báo), khi tái sanh vào đời sau (on rebirth in the next life / sanh báo), hoặc vào một thời điểm sau đó (at some later time / hậu báo). Đây được gọi là kết quả của nghiệp.
Và sự chấm dứt của nghiệp là gì? Khi xúc chấm dứt, nghiệp chấm dứt. Con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt nghiệp chính là con đường tám ngành cao quý này, đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định.
Khi một vị Thánh đệ tử hiểu nghiệp theo cách này... vị ấy hiểu rằng đời sống phạm hạnh thâm nhập này là sự chấm dứt của nghiệp. 'Nghiệp cần được biết rõ. Và nguồn gốc, tính đa dạng, kết quả, sự chấm dứt, và con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt của chúng cần được biết rõ.' Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.
'Khổ cần được biết rõ. Và nguồn gốc, tính đa dạng, kết quả, sự chấm dứt, và con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt của nó cần được biết rõ.' Đó là điều Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Sanh (Rebirth / sự sinh ra) là khổ; già (old age / sự già nua) là khổ; bệnh (illness / sự ốm đau) là khổ; chết (death / sự chết) là khổ; sầu (sorrow / buồn rầu), bi (lamentation / than khóc), khổ (pain / đau đớn thể xác), ưu (sadness / buồn phiền tinh thần), và não (distress / tuyệt vọng) là khổ; cầu không được (not getting what you wish for / mong muốn mà không đạt được) là khổ. Tóm lại, năm thủ uẩn (five grasping aggregates / năm nhóm yếu tố bị chấp thủ: sắc, thọ, tưởng, hành, thức) là khổ.
Và nguồn gốc của khổ là gì? Tham ái (Craving / sự khao khát) là nguồn gốc của khổ.
Và tính đa dạng của khổ là gì? Có khổ nặng (severe suffering / đau khổ dữ dội), khổ nhẹ (mild suffering / đau khổ ít), khổ khó phai (slow to fade suffering / đau khổ kéo dài), và khổ mau phai (quick to fade suffering / đau khổ chóng qua). Đây được gọi là tính đa dạng của khổ.
Và kết quả của khổ là gì? Đó là khi một người bị khổ chi phối (overcome by suffering / bị đau khổ xâm chiếm) và khổ áp đảo (overwhelmed by suffering / bị đau khổ đè nặng) buồn rầu (sorrows / sầu muộn), than khóc (wails / kêu la), và kể lể (laments / than van), đấm ngực (beating their breast / tự hành hạ) và rơi vào hoang mang (falling into confusion / mất phương hướng). Hoặc, bị khổ đó chi phối, họ bắt đầu tìm kiếm bên ngoài (external search / tìm sự giúp đỡ từ bên ngoài), tự hỏi: 'Ai biết một hai câu thần chú để chấm dứt khổ này?' Kết quả của khổ là hoang mang hoặc tìm kiếm, Ta nói vậy. Đây được gọi là kết quả của khổ.
Và sự chấm dứt của khổ là gì? Khi tham ái chấm dứt, khổ chấm dứt. Con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt khổ chính là con đường tám ngành cao quý này, đó là: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, và chánh định.
Khi một vị Thánh đệ tử hiểu khổ theo cách này... vị ấy hiểu rằng đời sống phạm hạnh thâm nhập này là sự chấm dứt của khổ. 'Khổ cần được biết rõ. Và nguồn gốc, tính đa dạng, kết quả, sự chấm dứt, và con đường thực hành đưa đến sự chấm dứt của nó cần được biết rõ.' Đó là điều Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.
Đây là bài pháp thâm nhập."
AN 6.64 Tiếng Rống Sư Tử (Sīhanādasutta)
"Này các Tỳ kheo, Đấng Như Lai (Realized One / bậc đã chứng ngộ chân lý) sở hữu sáu năng lực của Đấng Như Lai (powers of a Realized One / Như Lai lực). Với những năng lực này, Ngài xác lập vị trí tối thượng (bull's place / địa vị của bậc đứng đầu), rống tiếng rống sư tử (lion's roar / lời tuyên bố chân lý hùng hồn) trong các hội chúng (assemblies / đám đông), và chuyển bánh xe Pháp (divine wheel / bánh xe giáo pháp thiêng liêng). Sáu năng lực đó là gì?
Thứ nhất, Đấng Như Lai thực sự hiểu rõ điều có thể (possible / khả năng xảy ra) là có thể và điều không thể (impossible / không thể xảy ra) là không thể. Vì Ngài thực sự hiểu rõ điều này, đây là một năng lực của Đấng Như Lai. Dựa vào năng lực này, Ngài xác lập vị trí tối thượng, rống tiếng rống sư tử trong các hội chúng, và chuyển bánh xe Pháp.
Hơn nữa, Đấng Như Lai thực sự hiểu rõ kết quả của nghiệp (result of deeds / quả báo của hành động) đã tạo ra trong quá khứ, tương lai, và hiện tại xét về cơ sở (grounds / điều kiện) và nguyên nhân (causes / lý do). Vì Ngài thực sự hiểu rõ điều này, đây là một năng lực của Đấng Như Lai. ...
Hơn nữa, Đấng Như Lai thực sự hiểu rõ sự ô nhiễm (corruption / sự suy đồi), sự thanh tịnh (cleansing / sự trong sạch), và sự xuất khởi (emergence / sự đi lên, thoát ra) liên quan đến các tầng thiền (absorptions / trạng thái nhập định), các tầng giải thoát (liberations / trạng thái tâm giải thoát khỏi đối tượng), các tầng định (immersions / trạng thái tâm định tĩnh), và các chứng đắc (attainments / thành tựu tâm linh). Vì Ngài thực sự hiểu rõ điều này, đây là một năng lực của Đấng Như Lai. ...
Hơn nữa, Đấng Như Lai nhớ lại nhiều kiếp quá khứ (past lives / đời sống trước). Đó là: một, hai, ba, bốn, năm, mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi, một trăm, một nghìn, một trăm nghìn kiếp; nhiều kiếp (eons / thời kỳ dài) thế giới hoại (world contracting / thế giới co lại, hủy diệt), nhiều kiếp thế giới thành (world expanding / thế giới mở rộng, hình thành), nhiều kiếp thế giới hoại và thành. Ngài nhớ: 'Ở đó, ta tên là thế này, dòng họ là thế kia, trông như thế này, và thức ăn của ta là thế đó. Đây là cách ta cảm nhận an vui và khổ đau, và đó là cách cuộc đời ta kết thúc. Khi ta qua đời từ nơi đó, ta được tái sanh ở một nơi khác. Ở đó, ta cũng tên là thế này, dòng họ là thế kia, trông như thế này, và thức ăn của ta là thế đó. Đây là cách ta cảm nhận an vui và khổ đau, và đó là cách cuộc đời ta kết thúc. Khi ta qua đời từ nơi đó, ta được tái sanh ở đây.' Và cứ thế, Ngài nhớ lại nhiều kiếp quá khứ của mình, với các đặc điểm và chi tiết. Vì Ngài thực sự hiểu rõ điều này, đây là một năng lực của Đấng Như Lai. ...
Hơn nữa, với thiên nhãn (clairvoyance / khả năng nhìn thấy xa và rõ) thanh tịnh và siêu phàm, Đấng Như Lai thấy các chúng sanh (sentient beings / các loài hữu tình) chết đi (passing away / qua đời) và tái sanh (reborn / sinh lại)---hạ liệt (inferior / thấp kém) và cao thượng (superior / tốt đẹp), xấu xí (ugly / không đẹp) và xinh đẹp (beautiful / đẹp đẽ), ở cõi lành (good place / nơi tốt) hoặc cõi dữ (bad place / nơi xấu). Ngài hiểu rõ chúng sanh tái sanh như thế nào tùy theo nghiệp (deeds / hành động) của họ. Vì Ngài thực sự hiểu rõ điều này, đây là một năng lực của Đấng Như Lai. ...
Hơn nữa, Đấng Như Lai đã chứng ngộ tâm giải thoát vô lậu (undefiled freedom of heart / sự giải thoát của tâm khỏi phiền não) và tuệ giải thoát (freedom by wisdom / sự giải thoát bằng trí tuệ) ngay trong đời này. Và Ngài sống, đã chứng ngộ điều đó bằng trí tuệ (insight / tuệ giác) của chính mình nhờ sự đoạn tận các lậu hoặc (ending of defilements / chấm dứt phiền não). Vì Ngài thực sự hiểu rõ điều này, đây là một năng lực của Đấng Như Lai. Dựa vào năng lực này, Ngài xác lập vị trí tối thượng, rống tiếng rống sư tử trong các hội chúng, và chuyển bánh xe Pháp. Đây là sáu năng lực của Đấng Như Lai mà Đấng Như Lai sở hữu. Với những năng lực này, Ngài xác lập vị trí tối thượng, rống tiếng rống sư tử trong các hội chúng, và chuyển bánh xe Pháp.
Nếu người khác đến gặp Đấng Như Lai và đặt câu hỏi về tri kiến chân thực (true knowledge / sự hiểu biết đúng sự thật) của Ngài về điều có thể là có thể và điều không thể là không thể, Đấng Như Lai trả lời họ theo bất kỳ cách nào mà Ngài đã thực sự biết rõ.
Nếu người khác đến gặp Đấng Như Lai và đặt câu hỏi về tri kiến chân thực của Ngài về kết quả của nghiệp đã tạo ra trong quá khứ, tương lai, và hiện tại xét về cơ sở và nguyên nhân, Đấng Như Lai trả lời họ theo bất kỳ cách nào mà Ngài đã thực sự biết rõ.
Nếu người khác đến gặp Đấng Như Lai và đặt câu hỏi về tri kiến chân thực của Ngài về sự ô nhiễm, sự thanh tịnh, và sự xuất khởi liên quan đến các tầng thiền, các tầng giải thoát, các tầng định, và các chứng đắc, Đấng Như Lai trả lời họ theo bất kỳ cách nào mà Ngài đã thực sự biết rõ.
Nếu người khác đến gặp Đấng Như Lai và đặt câu hỏi về tri kiến chân thực của Ngài về việc nhớ lại các kiếp quá khứ, Đấng Như Lai trả lời họ theo bất kỳ cách nào mà Ngài đã thực sự biết rõ.
Nếu người khác đến gặp Đấng Như Lai và đặt câu hỏi về tri kiến chân thực của Ngài về sự chết đi và tái sanh của chúng sanh, Đấng Như Lai trả lời họ theo bất kỳ cách nào mà Ngài đã thực sự biết rõ.
Nếu người khác đến gặp Đấng Như Lai và đặt câu hỏi về tri kiến chân thực của Ngài về sự đoạn tận các lậu hoặc, Đấng Như Lai trả lời họ theo bất kỳ cách nào mà Ngài đã thực sự biết rõ.
Và Ta nói rằng tri kiến chân thực về điều có thể là có thể và điều không thể là không thể là dành cho những người có định tâm (immersion / định), không phải cho những người không có định tâm. Và tri kiến chân thực về kết quả của nghiệp đã tạo ra trong quá khứ, tương lai, và hiện tại xét về cơ sở và nguyên nhân là dành cho những người có định tâm, không phải cho những người không có định tâm. Và tri kiến chân thực về sự ô nhiễm, sự thanh tịnh, và sự xuất khởi liên quan đến các tầng thiền, các tầng giải thoát, các tầng định, và các chứng đắc là dành cho những người có định tâm, không phải cho những người không có định tâm. Và tri kiến chân thực về việc nhớ lại các kiếp quá khứ là dành cho những người có định tâm, không phải cho những người không có định tâm. Và tri kiến chân thực về sự chết đi và tái sanh của chúng sanh là dành cho những người có định tâm, không phải cho những người không có định tâm. Và tri kiến chân thực về sự đoạn tận các lậu hoặc là dành cho những người có định tâm, không phải cho những người không có định tâm.
Và như vậy, này các Tỳ kheo, định tâm là con đường (path / đạo). Không định tâm là con đường sai lầm (wrong path / tà đạo)."