Skip to content

Phẩm về Giác Ngộ

AN 9.1 Giác Ngộ Sambodhisutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn trú gần Sāvatthī (Xá-vệ), tại Jetavana (Kỳ-đà Lâm), khu vườn của ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc). Tại đấy, Thế Tôn gọi các Tỳ kheo:

"Này các Tỳ kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi các ông: ‘Chư Hiền, đâu là điều kiện thiết yếu để phát triển các giác chi (awakening factors / yếu tố đưa đến giác ngộ)?’ Các ông sẽ trả lời họ như thế nào?”

"Các pháp của chúng con lấy Thế Tôn làm căn bản. ... Các Tỳ kheo sẽ lắng nghe và ghi nhớ điều đó.”

"Vậy thì, này các Tỳ kheo, hãy lắng nghe và như lý tác ý (apply the mind rationally / suy tư với trí tuệ), Ta sẽ nói.”

"Thưa vâng, bạch Thế Tôn.” Các Tỳ kheo ấy vâng đáp Thế Tôn. Thế Tôn nói như sau:

"Này các Tỳ kheo, nếu các du sĩ ngoại đạo hỏi các ông: ‘Chư Hiền, đâu là điều kiện thiết yếu để phát triển các giác chi?’ Các ông nên trả lời họ như sau:

‘Đó là khi một Tỳ kheo có bạn lành, bạn tốt, thân hữu tốt. Đây là điều kiện thiết yếu đầu tiên để phát triển các giác chi.

Lại nữa, một Tỳ kheo có giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức), sống chế ngự trong giới luật Pātimokkha (Ba-la-đề-mộc-xoa), có đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập các học giới. Đây là điều kiện thiết yếu thứ hai để phát triển các giác chi.

Lại nữa, một Tỳ kheo được tham gia vào các câu chuyện khổ hạnh giúp mở lòng, khi vị ấy muốn, không khó khăn, không mệt nhọc. Đó là những câu chuyện về thiểu dục, tri túc, viễn ly, không tụ tập, tinh cần, giới, định, tuệ, giải thoát, và giải thoát tri kiến (knowledge and vision of freedom / sự hiểu biết và cái thấy về giải thoát). Đây là điều kiện thiết yếu thứ ba để phát triển các giác chi.

Lại nữa, một Tỳ kheo sống tinh cần, nỗ lực từ bỏ các pháp bất thiện, thực hành các pháp thiện; có nghị lực, kiên trì, không lười biếng trong việc tu tập các pháp thiện. Đây là điều kiện thiết yếu thứ tư để phát triển các giác chi.

Lại nữa, một Tỳ kheo có trí tuệ. Vị ấy có trí tuệ về sự sinh diệt, là trí tuệ bậc Thánh, có khả năng thâm nhập, đưa đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau. Đây là điều kiện thiết yếu thứ năm để phát triển các giác chi.’

Một Tỳ kheo có bạn lành, bạn tốt, thân hữu tốt có thể được mong đợi là sẽ có giới đức ...

Một Tỳ kheo có bạn lành, bạn tốt, thân hữu tốt có thể được mong đợi là sẽ được tham gia vào các câu chuyện khổ hạnh giúp mở lòng ...

Một Tỳ kheo có bạn lành, bạn tốt, thân hữu tốt có thể được mong đợi là sẽ sống tinh cần ...

Một Tỳ kheo có bạn lành, bạn tốt, thân hữu tốt có thể được mong đợi là sẽ có trí tuệ ...

Nhưng rồi, một Tỳ kheo dựa trên năm điều này nên phát triển thêm bốn điều nữa. Họ nên phát triển nhận thức (perceptions / tưởng, nhận biết-phân biệt và gắn nhãn) về sự bất tịnh để từ bỏ tham ái, phát triển tâm từ để từ bỏ tức giận, phát triển niệm hơi thở (mindfulness of breathing / sự tỉnh thức về hơi thở) để cắt đứt suy nghĩ, và nhận thức về vô thường để nhổ tận gốc ngã mạn (conceit 'I am' / sự kiêu ngạo ‘tôi là’). Khi ông nhận thức được vô thường, nhận thức về vô ngã (not-self / không có tự ngã) trở nên vững chắc. Nhận thức được vô ngã, ông nhổ tận gốc ngã mạn và đạt được Niết-bàn (extinguishment / sự kết thúc mọi khổ đau) ngay trong đời này.”

AN 9.2 Nương Tựa Nissayasutta

Khi ấy, một Tỳ kheo đến đảnh lễ Thế Tôn, rồi ngồi xuống một bên và thưa với Ngài:

"Bạch Thế Tôn, người ta nói về việc ‘được hỗ trợ’. Một Tỳ kheo được hỗ trợ được định nghĩa như thế nào?”

"Này Tỳ kheo, nếu một Tỳ kheo được hỗ trợ bởi niềm tin, từ bỏ điều bất thiện và phát triển điều thiện, thì điều bất thiện thực sự được vị ấy từ bỏ.

Nếu một Tỳ kheo được hỗ trợ bởi sự xấu hổ ...

Nếu một Tỳ kheo được hỗ trợ bởi sự sợ điều ác ...

Nếu một Tỳ kheo được hỗ trợ bởi sự siêng năng ...

Nếu một Tỳ kheo được hỗ trợ bởi trí tuệ, từ bỏ điều bất thiện và phát triển điều thiện, thì điều bất thiện thực sự được vị ấy từ bỏ. Cái đã được từ bỏ là hoàn toàn được từ bỏ khi nó được từ bỏ bằng cách thấy với trí tuệ bậc Thánh.

Nhưng rồi, một Tỳ kheo dựa trên năm điều này nên nương tựa vào bốn điều. Bốn điều gì? Sau khi thẩm xét, một Tỳ kheo sử dụng một số thứ, chịu đựng một số thứ, tránh né một số thứ, và loại bỏ một số thứ. Đó là cách một Tỳ kheo được hỗ trợ.”

AN 9.3 Với Meghiya Meghiyasutta

Một thời Thế Tôn trú gần Cālikā, trên núi Cālikā.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Meghiya là thị giả của Thế Tôn. Khi ấy, Tôn giả Meghiya đến đảnh lễ Thế Tôn, đứng một bên và thưa: “Bạch Thế Tôn, con muốn vào làng Jantu để khất thực.”

"Này Meghiya, hãy làm những gì thầy nghĩ là hợp thời.”

Rồi Tôn giả Meghiya vào buổi sáng đắp y, mang bát và y, vào làng Jantu để khất thực. Sau bữa ăn, khi từ làng Jantu khất thực trở về, thầy đi đến bờ sông Kimikālā. Khi đang đi dạo dọc bờ sông, thầy thấy một khu vườn xoài đáng yêu và khả ái.

Thầy nghĩ: “Ồ, khu vườn xoài này thật đáng yêu và khả ái! Nơi này thật tốt cho một thiện nam tử muốn tinh tấn tu tập. Nếu Thế Tôn cho phép, con sẽ trở lại khu vườn xoài này để thiền định.”

Rồi Tôn giả Meghiya đến đảnh lễ Thế Tôn, ngồi xuống một bên và kể lại sự việc, rồi thưa thêm: “Nếu Thế Tôn cho phép, con sẽ trở lại khu vườn xoài ấy để thiền định.”

"Chúng ta chỉ có một mình, này Meghiya. Hãy đợi cho đến khi có một Tỳ kheo khác đến.”

Lần thứ hai, Tôn giả Meghiya thưa với Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn không còn gì phải làm thêm, và không có gì cần cải thiện. Nhưng con thì có. Nếu Ngài cho phép, con sẽ trở lại khu vườn xoài ấy để thiền định.”

"Chúng ta chỉ có một mình, này Meghiya. Hãy đợi cho đến khi có một Tỳ kheo khác đến.”

Lần thứ ba, Tôn giả Meghiya thưa với Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, Thế Tôn không còn gì phải làm thêm, và không có gì cần cải thiện. Nhưng con thì có. Nếu Ngài cho phép, con sẽ trở lại khu vườn xoài ấy để thiền định.”

"Này Meghiya, vì thầy nói về việc tinh tấn thiền định, Ta biết nói gì đây? Này Meghiya, hãy làm những gì thầy nghĩ là hợp thời.”

Rồi Tôn giả Meghiya từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ Thế Tôn, đi nhiễu quanh Ngài theo chiều bên phải. Rồi thầy đi đến khu vườn xoài ấy, và sau khi đi sâu vào trong, ngồi xuống dưới gốc một cây để thiền định trong ngày. Nhưng trong khi Tôn giả Meghiya thiền định trong khu vườn xoài ấy, thầy bị ám ảnh chủ yếu bởi ba loại tư tưởng xấu xa, bất thiện, đó là: dục tầm (sensual thoughts / ý nghĩ về dục vọng), sân tầm (malicious thoughts / ý nghĩ về sân hận), và hại tầm (cruel thoughts / ý nghĩ về làm hại).

Rồi thầy nghĩ: “Ồ, thật không thể tin được, thật đáng kinh ngạc! Ta đã xuất gia từ đời sống thế tục vào đời sống không nhà vì niềm tin, nhưng ta vẫn bị quấy rầy bởi ba loại tư tưởng xấu xa, bất thiện này: dục tầm, sân tầm, và hại tầm.”

Rồi Tôn giả Meghiya đến đảnh lễ Thế Tôn, ngồi xuống một bên và kể lại sự việc.

"Này Meghiya, khi tâm giải thoát (heart's release / sự giải thoát của tâm) chưa chín muồi, có năm điều giúp nó chín muồi. Năm điều gì?

Thứ nhất, một Tỳ kheo có bạn lành, bạn tốt, thân hữu tốt. Đây là điều thứ nhất...

Lại nữa, một Tỳ kheo có giới đức, sống chế ngự trong giới luật Pātimokkha, có đầy đủ oai nghi chánh hạnh, thấy sự nguy hiểm trong các lỗi nhỏ nhặt, chấp nhận và học tập các học giới. Đây là điều thứ hai...

Lại nữa, một Tỳ kheo được tham gia vào các câu chuyện khổ hạnh giúp mở lòng, khi vị ấy muốn, không khó khăn, không mệt nhọc. Đó là những câu chuyện về thiểu dục, tri túc, viễn ly, không tụ tập, tinh cần, giới, định, tuệ, giải thoát, và giải thoát tri kiến. Đây là điều thứ ba...

Lại nữa, một Tỳ kheo sống tinh cần, nỗ lực từ bỏ các pháp bất thiện, thực hành các pháp thiện; có nghị lực, kiên trì, không lười biếng trong việc tu tập các pháp thiện. Đây là điều thứ tư...

Lại nữa, một Tỳ kheo có trí tuệ. Vị ấy có trí tuệ về sự sinh diệt, là trí tuệ bậc Thánh, có khả năng thâm nhập, đưa đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau. Đây là điều thứ năm, khi tâm giải thoát chưa chín muồi, giúp nó chín muồi.

Một Tỳ kheo có bạn lành, bạn tốt, thân hữu tốt có thể được mong đợi là sẽ có giới đức...

Một Tỳ kheo có bạn lành, bạn tốt, thân hữu tốt có thể được mong đợi là sẽ được tham gia vào các câu chuyện khổ hạnh giúp mở lòng...

Một Tỳ kheo có bạn lành, bạn tốt, thân hữu tốt có thể được mong đợi là sẽ tinh cần...

Một Tỳ kheo có bạn lành, bạn tốt, thân hữu tốt có thể được mong đợi là sẽ có trí tuệ...

Nhưng rồi, một Tỳ kheo dựa trên năm điều này nên phát triển thêm bốn điều nữa. Họ nên phát triển nhận thức về sự bất tịnh để từ bỏ tham ái, phát triển tâm từ (love / lòng thương yêu) để từ bỏ tức giận, phát triển niệm hơi thở để cắt đứt suy nghĩ, và nhận thức về vô thường để nhổ tận gốc ngã mạn. Khi ông nhận thức được vô thường, nhận thức về vô ngã trở nên vững chắc. Nhận thức được vô ngã, ông nhổ tận gốc ngã mạn và đạt được Niết-bàn ngay trong đời này.”

AN 9.4 Với Nandaka Nandakasutta

Một thời Thế Tôn trú gần Sāvatthī, tại Jetavana, khu vườn của ông Anāthapiṇḍika.

Lúc bấy giờ, Tôn giả Nandaka đang giáo huấn, khích lệ, làm phấn khởi và truyền cảm hứng cho các Tỳ kheo trong giảng đường bằng một bài pháp thoại. Rồi vào cuối buổi chiều, Thế Tôn ra khỏi nơi tịnh tu và đi đến giảng đường. Ngài đứng ngoài cửa đợi cho bài pháp thoại kết thúc. Khi biết bài pháp thoại đã kết thúc, Ngài hắng giọng và gõ vào cánh cửa. Các Tỳ kheo mở cửa cho Thế Tôn, và Ngài bước vào giảng đường, ngồi xuống trên chỗ đã soạn sẵn.

Ngài nói với Tôn giả Nandaka: “Này Nandaka, đó là một bài thuyết pháp dài mà thầy đã giảng cho các Tỳ kheo. Lưng Ta đã mỏi khi đứng ngoài cửa đợi cho bài pháp thoại kết thúc.”

Khi Ngài nói vậy, Tôn giả Nandaka cảm thấy xấu hổ và thưa với Thế Tôn: “Bạch Thế Tôn, chúng con không biết Thế Tôn đang đứng ngoài cửa. Nếu chúng con biết, con đã không nói nhiều như vậy.”

Rồi Thế Tôn, biết Tôn giả Nandaka đang xấu hổ, nói với thầy: “Lành thay, lành thay, Nandaka! Thật thích hợp cho những thiện nam tử như các ông, những người đã xuất gia từ đời sống thế tục vào đời sống không nhà vì niềm tin, để cùng nhau ngồi lại nghe pháp thoại. Khi các ông ngồi lại với nhau, các ông nên làm một trong hai điều: thảo luận về giáo pháp hoặc giữ sự im lặng của bậc Thánh (noble silence / sự im lặng cao quý).”

Này Nandaka, một Tỳ kheo có niềm tin nhưng không có giới đức. Vậy là họ chưa trọn vẹn ở phương diện đó, và nên hoàn thiện nó, suy nghĩ: ‘Làm sao ta có thể trở nên có niềm tin và có giới đức?’ Khi một Tỳ kheo có niềm tin và có giới đức, họ trọn vẹn ở phương diện đó.

Một Tỳ kheo có niềm tin và có giới đức, nhưng không đạt được sự thanh tịnh nội tâm (internal serenity of heart / sự tĩnh lặng bên trong tâm hồn). Vậy là họ chưa trọn vẹn ở phương diện đó, và nên hoàn thiện nó, suy nghĩ: ‘Làm sao ta có thể trở nên có niềm tin, có giới đức và đạt được sự thanh tịnh nội tâm?’ Khi một Tỳ kheo có niềm tin, có giới đức và đạt được sự thanh tịnh nội tâm, họ trọn vẹn ở phương diện đó.

Một Tỳ kheo có niềm tin, có giới đức, và đạt được sự thanh tịnh nội tâm, nhưng họ không đạt được trí tuệ cao hơn về sự phân biệt các nguyên lý. Vậy là họ chưa trọn vẹn ở phương diện đó. Giả sử, này Nandaka, có một con vật bốn chân bị què và tàn tật. Nó sẽ không trọn vẹn ở phương diện đó. Cũng vậy, một Tỳ kheo có niềm tin, có giới đức, và đạt được sự thanh tịnh nội tâm, nhưng họ không đạt được trí tuệ cao hơn về sự phân biệt các nguyên lý. Vậy là họ chưa trọn vẹn ở phương diện đó, và nên hoàn thiện nó, suy nghĩ: ‘Làm sao ta có thể trở nên có niềm tin, có giới đức, đạt được sự thanh tịnh nội tâm và đạt được trí tuệ cao hơn về sự phân biệt các nguyên lý?’

Khi một Tỳ kheo có niềm tin, có giới đức, đạt được sự thanh tịnh nội tâm và đạt được trí tuệ cao hơn về sự phân biệt các nguyên lý, họ trọn vẹn ở phương diện đó.”

Đó là những gì Thế Tôn đã nói. Sau khi nói xong, bậc Thánh đứng dậy từ chỗ ngồi và đi vào tịnh thất của Ngài.

Rồi ngay sau khi Thế Tôn rời đi, Tôn giả Nandaka nói với các Tỳ kheo: “Chư Hiền, vừa rồi Thế Tôn đã giải thích một pháp hành hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh trong bốn phát biểu, trước khi đứng dậy từ chỗ ngồi và đi vào tịnh thất của Ngài:

‘Này Nandaka, một Tỳ kheo có niềm tin nhưng không có giới đức. Vậy là họ chưa trọn vẹn ở phương diện đó, và nên hoàn thiện nó, suy nghĩ: “Làm sao ta có thể trở nên có niềm tin và có giới đức?” Khi một Tỳ kheo có niềm tin và có giới đức, họ trọn vẹn ở phương diện đó.

Một Tỳ kheo có niềm tin và có giới đức, nhưng không đạt được sự thanh tịnh nội tâm. ...

Họ đạt được sự thanh tịnh nội tâm, nhưng họ không đạt được trí tuệ cao hơn về sự phân biệt các nguyên lý. Vậy là họ chưa trọn vẹn ở phương diện đó. Giả sử, này Nandaka, có một con vật bốn chân bị què và tàn tật. Nó sẽ không trọn vẹn ở phương diện đó. Cũng vậy, một Tỳ kheo có niềm tin, có giới đức, và đạt được sự thanh tịnh nội tâm, nhưng họ không đạt được trí tuệ cao hơn về sự phân biệt các nguyên lý. Vậy là họ chưa trọn vẹn ở phương diện đó, và nên hoàn thiện nó, suy nghĩ: “Làm sao ta có thể trở nên có niềm tin, có giới đức, đạt được sự thanh tịnh nội tâm và đạt được trí tuệ cao hơn về sự phân biệt các nguyên lý?” Khi một Tỳ kheo có niềm tin, có giới đức, đạt được sự thanh tịnh nội tâm và đạt được trí tuệ cao hơn về sự phân biệt các nguyên lý, họ trọn vẹn ở phương diện đó.’

Chư Hiền, có năm lợi ích này của việc lắng nghe giáo pháp vào đúng thời điểm và thảo luận giáo pháp vào đúng thời điểm. Năm điều gì?

Thứ nhất, một Tỳ kheo tuyên thuyết một giáo pháp cho các Tỳ kheo, giáo pháp ấy tốt đẹp ở phần đầu, tốt đẹp ở phần giữa, và tốt đẹp ở phần cuối, có ý nghĩa và văn cú rõ ràng. Và họ tiết lộ một pháp hành hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh. Bất cứ khi nào họ làm điều này, họ trở nên được Thầy yêu mến và chấp thuận, được tôn kính và ngưỡng mộ. Đây là lợi ích thứ nhất...

Lại nữa, một Tỳ kheo giảng dạy Chánh pháp cho các Tỳ kheo... Bất cứ khi nào họ làm điều này, họ cảm thấy được truyền cảm hứng bởi ý nghĩa và giáo lý trong Chánh pháp đó. Đây là lợi ích thứ hai...

Lại nữa, một Tỳ kheo giảng dạy Chánh pháp cho các Tỳ kheo... Bất cứ khi nào họ làm điều này, họ thấy được ý nghĩa của một lời dạy sâu sắc trong Chánh pháp đó với trí tuệ thâm nhập. Đây là lợi ích thứ ba...

Lại nữa, một Tỳ kheo giảng dạy Chánh pháp cho các Tỳ kheo... Bất cứ khi nào họ làm điều này, các bạn đồng tu của họ kính trọng họ hơn, nghĩ rằng: ‘Chắc chắn vị tôn giả này đã chứng đắc hoặc sẽ chứng đắc.’ Đây là lợi ích thứ tư...

Lại nữa, một Tỳ kheo giảng dạy Chánh pháp cho các Tỳ kheo... Bất cứ khi nào họ làm điều này, có thể có các Tỳ kheo đang tu học có mặt, những người chưa đạt được ước nguyện của tâm mình, nhưng sống với khát vọng đạt đến nơi ẩn náu tối thượng (supreme sanctuary / nơi trú ẩn cao nhất) khỏi khổ ách. Nghe giáo pháp đó, họ khơi dậy sự siêng năng để đạt được những gì chưa đạt, thành tựu những gì chưa thành tựu, và chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Có thể có các Tỳ kheo đã hoàn thiện có mặt, những người đã chấm dứt các phiền não (defilements / những ô nhiễm của tâm), hoàn thành con đường tu tập, làm những gì phải làm, đặt gánh nặng xuống, đạt được mục tiêu của chính mình, hoàn toàn chấm dứt kiết sử (fetter / những trói buộc) của sự tiếp tục tồn tại, và được giải thoát đúng đắn nhờ giác ngộ. Nghe giáo pháp đó, họ chỉ đơn giản sống hạnh phúc trong đời này. Đây là lợi ích thứ năm...

Đây là năm lợi ích của việc lắng nghe giáo pháp vào đúng thời điểm và thảo luận giáo pháp vào đúng thời điểm.”

AN 9.5 Năng Lực Balasutta

"Này các Tỳ kheo, có bốn năng lực (powers / lực / sức mạnh nội tâm) này. Bốn năng lực gì? Năng lực trí tuệ, năng lực siêng năng, năng lực không bị khiển trách (blamelessness / anavajja / không có lỗi lầm đáng chê), và năng lực nhiếp phục (inclusiveness / saṅgaha / khả năng thu hút, giúp đỡ người khác).

Và năng lực trí tuệ là gì? Một người đã thấy rõ và quán chiếu rõ ràng bằng trí tuệ những phẩm chất thiện và được coi là thiện; những phẩm chất bất thiện... đáng bị khiển trách... không bị khiển trách... hắc ám... trong sáng... cần được tu tập... không cần được tu tập... không xứng đáng với bậc Thánh... xứng đáng với bậc Thánh và được coi là xứng đáng với bậc Thánh. Đây gọi là năng lực trí tuệ.

Và năng lực siêng năng là gì? Một người khởi lên lòng nhiệt thành, cố gắng, nỗ lực, chuyên chú tâm ý, và phấn đấu để từ bỏ những phẩm chất bất thiện và được coi là bất thiện; những phẩm chất đáng bị khiển trách... hắc ám... không cần được tu tập... không xứng đáng với bậc Thánh và được coi là không xứng đáng với bậc Thánh. Một người khởi lên lòng nhiệt thành, cố gắng, nỗ lực, chuyên chú tâm ý, và phấn đấu để đạt được những phẩm chất thiện và được coi là thiện; những phẩm chất không bị khiển trách... trong sáng... cần được tu tập... xứng đáng với bậc Thánh và được coi là xứng đáng với bậc Thánh. Đây gọi là năng lực siêng năng.

Và năng lực không bị khiển trách là gì? Đó là khi một Thánh đệ tử có hành vi không bị khiển trách qua thân, khẩu, và ý. Đây gọi là năng lực không bị khiển trách.

Và năng lực nhiếp phục là gì? Có bốn cách nhiếp phục này. Bố thí, ái ngữ, lợi hành, và đồng sự. Món quà tốt nhất là món quà Chánh pháp. Loại ái ngữ tốt nhất là giảng dạy Chánh pháp lặp đi lặp lại cho người có tâm cầu học và tích cực lắng nghe. Cách lợi hành tốt nhất là khuyến khích, làm cho vững vàng, và đặt nền tảng cho người không có niềm tin vào niềm tin, người không có giới đức vào giới đức, người keo kiệt vào sự rộng lượng, và người vô minh vào trí tuệ. Loại đồng sự tốt nhất là sự bình đẳng của một Tu-đà-hoàn (stream-enterer / người nhập dòng) với một Tu-đà-hoàn khác, một Tư-đà-hàm (once-returner / người nhất lai) với một Tư-đà-hàm khác, một A-na-hàm (non-returner / người bất lai) với một A-na-hàm khác, và một A-la-hán (perfected one / người đã hoàn thiện, bậc ứng cúng) với một A-la-hán khác. Đây gọi là năng lực nhiếp phục. Đây là bốn năng lực.

Một Thánh đệ tử có bốn năng lực này đã vượt qua năm nỗi sợ hãi. Năm nỗi sợ hãi gì? Sợ hãi về sinh kế, sợ hãi về tai tiếng, sợ hãi cảm thấy bất an trong hội chúng, sợ hãi về cái chết, và sợ hãi về tái sinh xấu (bad rebirth / cảnh giới tái sinh không tốt đẹp).

Khi ấy, Thánh đệ tử đó suy ngẫm: ‘Ta không sợ hãi về sinh kế. Tại sao ta phải sợ điều đó? Ta có bốn năng lực này: năng lực trí tuệ, năng lực siêng năng, năng lực không bị khiển trách, và năng lực nhiếp phục. Một người thiếu trí tuệ có thể sợ hãi về sinh kế của họ. Một người lười biếng có thể sợ hãi về sinh kế của họ. Một người làm những điều đáng bị khiển trách qua thân, khẩu, và ý có thể sợ hãi về sinh kế của họ. Một người không nhiếp phục người khác có thể sợ hãi về sinh kế của họ. Ta không sợ hãi tai tiếng... Ta không sợ hãi cảm thấy bất an trong hội chúng... Ta không sợ hãi cái chết... Ta không sợ hãi tái sinh xấu. Tại sao ta phải sợ điều đó? Ta có bốn năng lực này: năng lực trí tuệ, năng lực siêng năng, năng lực không bị khiển trách, và năng lực nhiếp phục. Một người thiếu trí tuệ có thể sợ hãi tái sinh xấu. Một người lười biếng có thể sợ hãi tái sinh xấu. Một người làm những điều đáng bị khiển trách qua thân, khẩu, và ý có thể sợ hãi tái sinh xấu. Một người không nhiếp phục người khác có thể sợ hãi tái sinh xấu.’

Một Thánh đệ tử có bốn năng lực này đã vượt qua năm nỗi sợ hãi này.”

AN 9.6 Gần Gũi Sevanāsutta

Tại đấy, Tôn giả Sāriputta (Xá-lợi-phất) gọi các Tỳ kheo:

"Chư Hiền, các ông nên phân biệt hai loại người: những người các ông nên gần gũi, và những người các ông không nên gần gũi. Các ông nên phân biệt hai loại y: những loại các ông nên mặc, và những loại các ông không nên mặc. Các ông nên phân biệt hai loại vật thực khất thực: loại các ông nên ăn, và loại các ông không nên ăn. Các ông nên phân biệt hai loại trú xứ: những nơi các ông nên lui tới, và những nơi các ông không nên lui tới. Các ông nên phân biệt hai loại làng hoặc thị trấn: những nơi các ông nên lui tới, và những nơi các ông không nên lui tới. Các ông nên phân biệt hai loại xứ sở: những nơi các ông nên lui tới, và những nơi các ông không nên lui tới.

‘Các ông nên phân biệt hai loại người: những người các ông nên gần gũi, và những người các ông không nên gần gũi.’ Đó là điều tôi đã nói, nhưng tại sao tôi lại nói vậy? Này, nếu các ông biết về một người: ‘Khi tôi gần gũi người này, các pháp bất thiện tăng trưởng, và các pháp thiện suy giảm. Và những nhu yếu phẩm của đời sống mà một người xuất gia cần – y, vật thực khất thực, trú xứ, và thuốc men cùng vật dụng cho người bệnh – rất khó kiếm được. Và mục đích của đời sống phạm hạnh mà tôi đã từ bỏ đời sống thế tục để sống không nhà không được phát triển đầy đủ.’ Trong trường hợp này, các ông nên rời xa người đó ngay lập tức, dù ngày hay đêm, không cần hỏi han. Các ông không nên đi theo họ.

Ngược lại, nếu các ông biết về một người: ‘Khi tôi gần gũi người này, các pháp bất thiện tăng trưởng, và các pháp thiện suy giảm. Nhưng những nhu yếu phẩm của đời sống mà một người xuất gia cần – y, vật thực khất thực, trú xứ, và thuốc men cùng vật dụng cho người bệnh – lại dễ kiếm được. Tuy nhiên, mục đích của đời sống phạm hạnh mà tôi đã từ bỏ đời sống thế tục để sống không nhà không được phát triển đầy đủ.’ Trong trường hợp này, các ông nên rời xa người đó sau khi suy xét, không cần hỏi han. Các ông không nên đi theo họ.

Này, nếu các ông biết về một người: ‘Khi tôi gần gũi người này, các pháp bất thiện suy giảm, và các pháp thiện tăng trưởng. Và những nhu yếu phẩm của đời sống mà một người xuất gia cần – y, vật thực khất thực, trú xứ, và thuốc men cùng vật dụng cho người bệnh – rất khó kiếm được. Nhưng mục đích của đời sống phạm hạnh mà tôi đã từ bỏ đời sống thế tục để sống không nhà đang được phát triển đầy đủ.’ Trong trường hợp này, các ông nên đi theo người đó sau khi thẩm xét. Các ông không nên rời xa họ.

Ngược lại, nếu các ông biết về một người: ‘Khi tôi gần gũi người này, các pháp bất thiện suy giảm, và các pháp thiện tăng trưởng. Và những nhu yếu phẩm của đời sống mà một người xuất gia cần – y, vật thực khất thực, trú xứ, và thuốc men cùng vật dụng cho người bệnh – lại dễ kiếm được. Và mục đích của đời sống phạm hạnh mà tôi đã từ bỏ đời sống thế tục để sống không nhà đang được phát triển đầy đủ.’ Trong trường hợp này, các ông nên đi theo người đó. Các ông không nên rời xa họ, ngay cả khi họ đuổi các ông đi. ‘Các ông nên phân biệt hai loại người: những người các ông nên gần gũi, và những người các ông không nên gần gũi.’ Đó là điều tôi đã nói, và đây là lý do tại sao tôi nói vậy.

‘Các ông nên phân biệt hai loại y: những loại các ông nên mặc, và những loại các ông không nên mặc.’ Đó là điều tôi đã nói, nhưng tại sao tôi lại nói vậy? Này, nếu các ông biết về một loại y: ‘Khi tôi mặc loại y này, các pháp bất thiện tăng trưởng, và các pháp thiện suy giảm.’ Các ông không nên mặc loại y đó. Ngược lại, nếu các ông biết về một loại y: ‘Khi tôi mặc loại y này, các pháp bất thiện suy giảm, và các pháp thiện tăng trưởng.’ Các ông nên mặc loại y đó. ‘Các ông nên phân biệt hai loại y: những loại các ông nên mặc, và những loại các ông không nên mặc.’ Đó là điều tôi đã nói, và đây là lý do tại sao tôi nói vậy.

‘Các ông nên phân biệt hai loại vật thực khất thực: loại các ông nên ăn, và loại các ông không nên ăn.’ Đó là điều tôi đã nói, nhưng tại sao tôi lại nói vậy? Này, nếu các ông biết về một loại vật thực khất thực: ‘Khi tôi ăn loại vật thực khất thực này, các pháp bất thiện tăng trưởng, và các pháp thiện suy giảm.’ Các ông không nên ăn loại vật thực khất thực đó. Ngược lại, nếu các ông biết về một loại vật thực khất thực: ‘Khi tôi ăn loại vật thực khất thực này, các pháp bất thiện suy giảm, và các pháp thiện tăng trưởng.’ Các ông nên ăn loại vật thực khất thực đó. ‘Các ông nên phân biệt hai loại vật thực khất thực: loại các ông nên ăn, và loại các ông không nên ăn.’ Đó là điều tôi đã nói, và đây là lý do tại sao tôi nói vậy.

‘Các ông nên phân biệt hai loại trú xứ: những nơi các ông nên lui tới, và những nơi các ông không nên lui tới.’ Đó là điều tôi đã nói, nhưng tại sao tôi lại nói vậy? Này, nếu các ông biết về một trú xứ: ‘Khi tôi lui tới trú xứ này, các pháp bất thiện tăng trưởng, và các pháp thiện suy giảm.’ Các ông không nên lui tới loại trú xứ đó. Ngược lại, nếu các ông biết về một trú xứ: ‘Khi tôi lui tới trú xứ này, các pháp bất thiện suy giảm, và các pháp thiện tăng trưởng.’ Các ông nên lui tới loại trú xứ đó. ‘Các ông nên phân biệt hai loại trú xứ: những nơi các ông nên lui tới, và những nơi các ông không nên lui tới.’ Đó là điều tôi đã nói, và đây là lý do tại sao tôi nói vậy.

‘Các ông nên phân biệt hai loại làng hoặc thị trấn: những nơi các ông nên lui tới, và những nơi các ông không nên lui tới.’ Đó là điều tôi đã nói, nhưng tại sao tôi lại nói vậy? Này, nếu các ông biết về một làng hoặc thị trấn: ‘Khi tôi lui tới làng hoặc thị trấn này, các pháp bất thiện tăng trưởng, và các pháp thiện suy giảm.’ Các ông không nên lui tới loại làng hoặc thị trấn đó. Ngược lại, nếu các ông biết về một làng hoặc thị trấn: ‘Khi tôi lui tới làng hoặc thị trấn này, các pháp bất thiện suy giảm, và các pháp thiện tăng trưởng.’ Các ông nên lui tới loại làng hoặc thị trấn đó. ‘Các ông nên phân biệt hai loại làng hoặc thị trấn: những nơi các ông nên lui tới, và những nơi các ông không nên lui tới.’ Đó là điều tôi đã nói, và đây là lý do tại sao tôi nói vậy.

‘Các ông nên phân biệt hai loại xứ sở: những nơi các ông nên lui tới, và những nơi các ông không nên lui tới.’ Đó là điều tôi đã nói, nhưng tại sao tôi lại nói vậy? Này, nếu các ông biết về một xứ sở: ‘Khi tôi lui tới xứ sở này, các pháp bất thiện tăng trưởng, và các pháp thiện suy giảm.’ Các ông không nên lui tới loại xứ sở đó. Ngược lại, nếu các ông biết về một xứ sở: ‘Khi tôi lui tới xứ sở này, các pháp bất thiện suy giảm, và các pháp thiện tăng trưởng.’ Các ông nên lui tới loại xứ sở đó. ‘Các ông nên phân biệt hai loại xứ sở: những nơi các ông nên lui tới, và những nơi các ông không nên lui tới.’ Đó là điều tôi đã nói, và đây là lý do tại sao tôi nói vậy.”

AN 9.7 Với Du Sĩ Sutavā Sutavāsutta

Một thời Thế Tôn trú gần Rājagaha (Vương Xá), trên núi Gijjhakūṭa (Linh Thứu). Khi ấy, du sĩ Sutavā đến gặp Thế Tôn và chào hỏi Ngài. Sau khi chào hỏi và nói chuyện thân mật xong, ông ngồi xuống một bên và thưa với Thế Tôn:

"Bạch Thế Tôn, có một lần Thế Tôn đang trú ngay tại Rājagaha, tại Vùng Núi Gấp Nếp này. Tại đó, con đã nghe và học được điều này trước sự hiện diện của Thế Tôn: ‘Một Tỳ kheo đã hoàn thiện – với các phiền não đã chấm dứt, đã hoàn thành con đường tu tập, làm những gì phải làm, đặt gánh nặng xuống, đạt được mục tiêu chân chính của mình, hoàn toàn chấm dứt kiết sử của sự tiếp tục tồn tại, và được giải thoát đúng đắn nhờ giác ngộ – không thể vi phạm năm điều. Một Tỳ kheo với các phiền não đã chấm dứt không thể cố ý tước đoạt mạng sống của một chúng sinh, lấy vật gì với ý định trộm cắp, hành dâm, nói dối cố ý, hoặc tích trữ hàng hóa để hưởng thụ riêng như khi còn là người tại gia.’ Con tin rằng con đã nghe, học, suy tư và ghi nhớ điều đó từ Thế Tôn một cách đúng đắn phải không?”

"Đúng vậy, Sutavā, ông đã nghe, học, suy tư và ghi nhớ điều đó một cách đúng đắn. Trong quá khứ, cũng như hôm nay, Ta nói điều này: ‘Một Tỳ kheo đã hoàn thiện – với các phiền não đã chấm dứt, đã hoàn thành con đường tu tập, làm những gì phải làm, đặt gánh nặng xuống, đạt được mục tiêu chân chính của mình, hoàn toàn chấm dứt kiết sử của sự tiếp tục tồn tại, và được giải thoát đúng đắn nhờ giác ngộ – không thể vi phạm chín điều. Một Tỳ kheo với các phiền não đã chấm dứt không thể cố ý tước đoạt mạng sống của một chúng sinh, lấy vật gì với ý định trộm cắp, hành dâm, nói dối cố ý, hoặc tích trữ hàng hóa để hưởng thụ riêng như khi còn là người tại gia. Và họ không thể đưa ra quyết định bị thiên vị bởi ưa thích (favoritism / chanda / sự thiên vị do yêu thích), thù ghét (hostility / dosa / sự thiên vị do ghét), ngu si (stupidity / moha / sự thiên vị do si mê), hoặc nhút nhát (cowardice / bhaya / sự thiên vị do sợ hãi).’ Trong quá khứ, cũng như hôm nay, Ta nói điều này: ‘Một Tỳ kheo đã hoàn thiện – với các phiền não đã chấm dứt, đã hoàn thành con đường tu tập, làm những gì phải làm, đặt gánh nặng xuống, đạt được mục tiêu chân chính của mình, hoàn toàn chấm dứt kiết sử của sự tiếp tục tồn tại, và được giải thoát đúng đắn nhờ giác ngộ – không thể vi phạm chín điều này.’”

AN 9.8 Với Du Sĩ Sajjha Sajjhasutta

Một thời Thế Tôn trú gần Rājagaha, trên núi Gijjhakūṭa. Khi ấy, du sĩ Sajjha đến gặp Thế Tôn và chào hỏi Ngài. Sau khi chào hỏi và nói chuyện thân mật xong, ông ngồi xuống một bên và thưa với Thế Tôn:

"Bạch Thế Tôn, có một lần Thế Tôn đang trú ngay tại Rājagaha, tại Vùng Núi Gấp Nếp này. Tại đó, con đã nghe và học được điều này trước sự hiện diện của Thế Tôn: ‘Một Tỳ kheo đã hoàn thiện – với các phiền não đã chấm dứt, đã hoàn thành con đường tu tập, làm những gì phải làm, đặt gánh nặng xuống, đạt được mục tiêu chân chính của mình, hoàn toàn chấm dứt kiết sử của sự tiếp tục tồn tại, và được giải thoát đúng đắn nhờ giác ngộ – không thể vi phạm năm điều. Một Tỳ kheo với các phiền não đã chấm dứt không thể cố ý tước đoạt mạng sống của một chúng sinh, lấy vật gì với ý định trộm cắp, hành dâm, nói dối cố ý, hoặc tích trữ hàng hóa để hưởng thụ riêng như khi còn là người tại gia.’ Con tin rằng con đã nghe, học, suy tư và ghi nhớ điều đó từ Thế Tôn một cách đúng đắn phải không?”

"Đúng vậy, Sajjha, ông đã nghe, học, suy tư và ghi nhớ điều đó một cách đúng đắn. Trong quá khứ, cũng như hôm nay, Ta nói điều này: ‘Một Tỳ kheo đã hoàn thiện – với các phiền não đã chấm dứt, đã hoàn thành con đường tu tập, làm những gì phải làm, đặt gánh nặng xuống, đạt được mục tiêu chân chính của mình, hoàn toàn chấm dứt kiết sử của sự tiếp tục tồn tại, và được giải thoát đúng đắn nhờ giác ngộ – không thể vi phạm chín điều. Một Tỳ kheo với các phiền não đã chấm dứt không thể cố ý giết một chúng sinh, lấy vật gì với ý định trộm cắp, hành dâm, nói dối cố ý, hoặc tích trữ hàng hóa để hưởng thụ riêng như khi còn là người tại gia. Và họ không thể từ bỏ Phật, Pháp, Tăng, hoặc giới học (training / sikkhā / sự rèn luyện các giới luật).’ Trong quá khứ, cũng như hôm nay, Ta nói điều này: ‘Một Tỳ kheo đã hoàn thiện – với các phiền não đã chấm dứt, đã hoàn thành con đường tu tập, làm những gì phải làm, đặt gánh nặng xuống, đạt được mục tiêu chân chính của mình, hoàn toàn chấm dứt kiết sử của sự tiếp tục tồn tại, và được giải thoát đúng đắn nhờ giác ngộ – không thể vi phạm chín điều này.’”

AN 9.9 Các Hạng Người Puggalasutta

"Này các Tỳ kheo, có chín hạng người này được tìm thấy trên thế gian. Chín hạng người nào? Bậc A-la-hán và người đang thực hành để đạt quả A-la-hán. Bậc A-na-hàm và người đang thực hành để chứng quả A-na-hàm. Bậc Tư-đà-hàm và người đang thực hành để chứng quả Tư-đà-hàm. Bậc Tu-đà-hoàn và người đang thực hành để chứng quả Tu-đà-hoàn. Và phàm phu (ordinary person / người thường, chưa chứng Thánh quả). Đây là chín hạng người được tìm thấy trên thế gian.”

AN 9.10 Xứng Đáng Được Cúng Dường Āhuneyyasutta

"Này các Tỳ kheo, chín hạng người này là āhuneyya (worthy of offerings dedicated to the gods / xứng đáng được cúng dường), pāhuneyya (worthy of hospitality / xứng đáng được khoản đãi), dakkhiṇeyya (worthy of a religious donation / xứng đáng được bố thí), añjalikaraṇīya (worthy of greeting with joined palms / xứng đáng được chắp tay kính lễ), và là anuttaraṁ puññakkhettaṁ lokassa (supreme field of merit for the world / ruộng phước vô thượng cho đời). Chín hạng người nào? Bậc A-la-hán và người đang thực hành để đạt quả A-la-hán. Bậc A-na-hàm và người đang thực hành để chứng quả A-na-hàm. Bậc Tư-đà-hàm và người đang thực hành để chứng quả Tư-đà-hàm. Bậc Tu-đà-hoàn và người đang thực hành để chứng quả Tu-đà-hoàn. Và người chuyển tộc tánh (a lamb of the flock / gotrabhū, người ở giai đoạn tâm thức chuyển từ phàm sang Thánh, ngay trước khi chứng quả Dự lưu). Đây là chín hạng người xứng đáng được cúng dường, xứng đáng được khoản đãi, xứng đáng được bố thí, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng cho đời.”