Phẩm về Upāli
AN 10.31 Với Upāli Upālisutta
Rồi Tôn giả Upāli đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và thưa với Ngài:
"Bạch Thế Tôn, vì bao nhiêu lý do mà Bậc Giác Ngộ đã đặt ra các điều học (training rules / các quy tắc rèn luyện) cho các đệ tử của Ngài và tụng đọc giới bổn (monastic code / bộ giới luật của Tăng đoàn)?"
"Này Upāli, Bậc Giác Ngộ đã đặt ra các điều học cho các đệ tử của Ngài và tụng đọc giới bổn vì mười lý do. Mười lý do nào? Vì sự tốt đẹp của Tăng đoàn (Saṅgha / cộng đồng các vị xuất gia tu học) và vì sự thoải mái của Tăng đoàn. Để kiểm soát những người khó trị và vì sự thoải mái của các Tỳ kheo thiện tâm. Để ngăn ngừa các phiền não (defilements / những trạng thái tâm tiêu cực làm ô nhiễm tâm) ảnh hưởng đến đời này và bảo vệ khỏi các phiền não ảnh hưởng đến các đời sau. Để khơi dậy niềm tin cho những người chưa có niềm tin, và tăng trưởng niềm tin cho những người đã có niềm tin. Vì sự trường tồn của Chánh pháp (true teaching / giáo pháp chân chính) và sự hỗ trợ cho sự tu tập (training / sự rèn luyện và thực hành giáo pháp). Bậc Giác Ngộ đã đặt ra các điều học cho các đệ tử của Ngài và tụng đọc giới bổn vì mười lý do này."
AN 10.32 Dừng Tụng Đọc Giới Bổn Pātimokkhaṭṭhapanāsutta
"Bạch Thế Tôn, có bao nhiêu cơ sở để dừng việc tụng đọc giới bổn?"
"Này Upāli, có mười cơ sở để dừng việc tụng đọc giới bổn. Mười cơ sở nào? Một Tỳ kheo đã phạm tội bất cộng trụ (expulsion offense / tội nghiêm trọng nhất khiến Tỳ kheo bị trục xuất khỏi Tăng đoàn) đang ngồi trong hội chúng. Một cuộc thảo luận về việc ai đó có phạm tội bất cộng trụ hay không vẫn chưa kết thúc. Một người chưa thọ cụ túc giới (fully ordained / đã được truyền giới đầy đủ để trở thành Tỳ kheo) đang ngồi trong hội chúng. Một cuộc thảo luận về việc ai đó đã thọ cụ túc giới hay chưa vẫn chưa kết thúc. Một người đã từ bỏ sự tu tập đang ngồi trong hội chúng. Một cuộc thảo luận về việc ai đó đã từ bỏ sự tu tập hay chưa vẫn chưa kết thúc. Một hoạn nhân (eunuch / người có khiếm khuyết về cơ quan sinh dục hoặc không xác định rõ giới tính) đang ngồi trong hội chúng. Một cuộc thảo luận về việc ai đó có phải là hoạn nhân hay không vẫn chưa kết thúc. Một người xâm hại Tỳ kheo ni đang ngồi trong hội chúng. Một cuộc thảo luận về việc ai đó có phải là người xâm hại Tỳ kheo ni hay không vẫn chưa kết thúc. Đó là mười cơ sở để dừng việc tụng đọc giới bổn."
AN 10.33 Người Phân Xử Ubbāhikāsutta
"Bạch Thế Tôn, một Tỳ kheo cần có bao nhiêu phẩm chất để được xem là người phân xử?"
"Này Upāli, một Tỳ kheo cần có mười phẩm chất để được xem là người phân xử. Mười phẩm chất nào? Đó là khi một Tỳ kheo có giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức), thu thúc trong giới bổn, có hạnh kiểm tốt đẹp và khất thực ở những nơi thích hợp. Thấy sự nguy hiểm trong lỗi nhỏ nhặt nhất, vị ấy giữ gìn các điều học đã thọ nhận. Vị ấy đa văn (very learned / người học rộng, nghe nhiều giáo pháp), ghi nhớ và gìn giữ những gì đã học. Những giáo pháp này toàn hảo ở phần đầu, toàn hảo ở phần giữa, và toàn hảo ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú rõ ràng, mô tả một đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh. Vị ấy đa văn về những giáo pháp như vậy, ghi nhớ chúng, tụng đọc lại, suy xét kỹ lưỡng trong tâm, và thông hiểu về mặt lý thuyết. Cả hai bộ giới bổn (Tỳ kheo và Tỳ kheo ni) đã được truyền trao cho vị ấy một cách chi tiết, được phân tích kỹ, nắm vững, thẩm định rõ ràng cả về giới luật lẫn phần giải thích đi kèm. Vị ấy kiên định và không dao động trong sự tu tập. Khi có các bên đối lập, vị ấy có khả năng thuyết phục, biện hộ, và làm cho họ đồng thuận, khiến họ thấy được quan điểm của phía kia và tin tưởng lẫn nhau. Vị ấy khéo léo trong việc nêu lên và giải quyết các vấn đề kỷ luật (disciplinary issue / sự việc tranh chấp trong Tăng đoàn cần được giải quyết theo luật). Vị ấy biết vấn đề kỷ luật là gì. Vị ấy biết vấn đề kỷ luật phát sinh như thế nào. Vị ấy biết vấn đề kỷ luật chấm dứt như thế nào. Vị ấy biết con đường thực hành dẫn đến sự chấm dứt vấn đề kỷ luật. Một Tỳ kheo cần có mười phẩm chất này để được xem là người phân xử."
AN 10.34 Truyền Giới Cụ Túc Upasampadāsutta
"Bạch Thế Tôn, một Tỳ kheo cần có bao nhiêu phẩm chất để truyền giới cụ túc?"
"Này Upāli, một Tỳ kheo cần có mười phẩm chất để truyền giới cụ túc. Mười phẩm chất nào? Đó là khi một Tỳ kheo có giới đức, thu thúc trong giới bổn, có hạnh kiểm tốt đẹp và khất thực ở những nơi thích hợp. Thấy sự nguy hiểm trong lỗi nhỏ nhặt nhất, vị ấy giữ gìn các điều học đã thọ nhận. Vị ấy đa văn, ghi nhớ và gìn giữ những gì đã học. Những giáo pháp này toàn hảo ở phần đầu, toàn hảo ở phần giữa, và toàn hảo ở phần cuối, có ý nghĩa, có văn cú rõ ràng, mô tả một đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh. Vị ấy đa văn về những giáo pháp như vậy, ghi nhớ chúng, tụng đọc lại, suy xét kỹ lưỡng trong tâm, và thông hiểu về mặt lý thuyết. Cả hai bộ giới bổn (Tỳ kheo và Tỳ kheo ni) đã được truyền trao cho vị ấy một cách chi tiết, được phân tích kỹ, nắm vững, thẩm định rõ ràng cả về giới luật lẫn phần giải thích đi kèm. Vị ấy có khả năng chăm sóc người bệnh hoặc nhờ người khác làm việc đó. Vị ấy có khả năng giải quyết sự bất mãn hoặc nhờ người khác làm việc đó. Vị ấy có khả năng xua tan hối hận khi nó khởi lên. Họ có khả năng dùng như lý tác ý (apply the mind rationally / suy tư với trí tuệ) để khuyên can ai đó từ bỏ những tà kiến (misconceptions / quan điểm, hiểu biết sai lầm) đã khởi lên. Họ có khả năng khuyến khích ai đó trong tăng thượng giới (higher ethics / các tiêu chuẩn đạo đức cao hơn), tăng thượng tâm (higher mind / sự phát triển tâm định cao hơn), và tăng thượng tuệ (higher wisdom / sự phát triển trí tuệ cao hơn). Một Tỳ kheo cần có mười phẩm chất này để truyền giới cụ túc."
AN 10.35 Nương Tựa Nissayasutta
"Bạch Thế Tôn, một Tỳ kheo cần có bao nhiêu phẩm chất để cho phép sự nương tựa (dependence / sự bảo trợ và hướng dẫn của một vị thầy Tỳ kheo đối với đệ tử)?"
"Này Upāli, một Tỳ kheo cần có mười phẩm chất để cho phép sự nương tựa. Mười phẩm chất nào? Đó là khi một Tỳ kheo có giới đức ... Vị ấy đa văn ... Cả hai bộ giới bổn (Tỳ kheo và Tỳ kheo ni) đã được truyền trao cho vị ấy một cách chi tiết, được phân tích kỹ, nắm vững, thẩm định rõ ràng cả về giới luật lẫn phần giải thích đi kèm. Vị ấy có khả năng chăm sóc người bệnh hoặc nhờ người khác làm việc đó. Vị ấy có khả năng giải quyết sự bất mãn hoặc nhờ người khác làm việc đó. Vị ấy có khả năng xua tan hối hận khi nó khởi lên. Họ có khả năng dùng như lý tác ý để khuyên can ai đó từ bỏ những tà kiến đã khởi lên. Họ có khả năng khuyến khích ai đó trong tăng thượng giới, tăng thượng tâm, và tăng thượng tuệ. Một Tỳ kheo cần có mười phẩm chất này để cho phép sự nương tựa."
AN 10.36 Sa Di Sāmaṇerasutta
"Bạch Thế Tôn, một Tỳ kheo cần có bao nhiêu phẩm chất để được một Sa di (novice / người tập sự xuất gia, chưa thọ giới Tỳ kheo) phục vụ?"
"Này Upāli, một Tỳ kheo cần có mười phẩm chất để được một Sa di phục vụ. Mười phẩm chất nào? Đó là khi một Tỳ kheo có giới đức ... Vị ấy đa văn ... Cả hai bộ giới bổn (Tỳ kheo và Tỳ kheo ni) đã được truyền trao cho vị ấy một cách chi tiết, được phân tích kỹ, nắm vững, thẩm định rõ ràng cả về giới luật lẫn phần giải thích đi kèm. Vị ấy có khả năng chăm sóc người bệnh hoặc nhờ người khác làm việc đó. Vị ấy có khả năng giải quyết sự bất mãn hoặc nhờ người khác làm việc đó. Vị ấy có khả năng xua tan hối hận khi nó khởi lên. Họ có khả năng dùng như lý tác ý để khuyên can ai đó từ bỏ những tà kiến đã khởi lên. Họ có khả năng khuyến khích ai đó trong tăng thượng giới, tăng thượng tâm, và tăng thượng tuệ. Một Tỳ kheo cần có mười phẩm chất này để được một Sa di phục vụ."
AN 10.37 Chia Rẽ Tăng Đoàn Saṁghabhedasutta
"Bạch Thế Tôn, người ta nói về 'sự chia rẽ Tăng đoàn'. Sự chia rẽ Tăng đoàn được định nghĩa như thế nào?"
"Này Upāli, đó là khi một Tỳ kheo giải thích điều không phải là giáo pháp thành giáo pháp, và điều là giáo pháp thành không phải là giáo pháp. Họ giải thích điều không phải là sự tu tập thành sự tu tập, và điều là sự tu tập thành không phải sự tu tập. Họ giải thích điều không được Bậc Giác Ngộ nói và tuyên bố thành điều được Bậc Giác Ngộ nói và tuyên bố, và điều được Bậc Giác Ngộ nói và tuyên bố thành điều không được Bậc Giác Ngộ nói và tuyên bố. Họ giải thích điều không được Bậc Giác Ngộ thực hành thành điều được Bậc Giác Ngộ thực hành, và điều được Bậc Giác Ngộ thực hành thành điều không được Bậc Giác Ngộ thực hành. Họ giải thích điều không được Bậc Giác Ngộ quy định thành điều được Bậc Giác Ngộ quy định, và điều được Bậc Giác Ngộ quy định thành điều không được Bậc Giác Ngộ quy định. Dựa trên mười cơ sở này, họ tách riêng và đi con đường riêng của mình. Họ tự mình thực hiện các yết ma (legal acts / các thủ tục Tăng sự chính thức của Tăng đoàn) và tự mình tụng đọc giới bổn. Đó là cách sự chia rẽ Tăng đoàn được định nghĩa."
AN 10.38 Hòa Hợp Tăng Đoàn Saṁghasāmaggīsutta
"Bạch Thế Tôn, người ta nói về 'sự hòa hợp Tăng đoàn'. Sự hòa hợp Tăng đoàn được định nghĩa như thế nào?"
"Này Upāli, đó là khi một Tỳ kheo giải thích điều không phải là giáo pháp thành không phải là giáo pháp, và điều là giáo pháp thành giáo pháp. Họ giải thích điều không phải là sự tu tập thành không phải là sự tu tập, và điều là sự tu tập thành sự tu tập. Họ giải thích điều không được Bậc Giác Ngộ nói và tuyên bố thành điều không được Bậc Giác Ngộ nói và tuyên bố, và điều được Bậc Giác Ngộ nói và tuyên bố thành điều được Bậc Giác Ngộ nói và tuyên bố. Họ giải thích điều không được Bậc Giác Ngộ thực hành thành điều không được Bậc Giác Ngộ thực hành, và điều được Bậc Giác Ngộ thực hành thành điều được Bậc Giác Ngộ thực hành. Họ giải thích điều không được Bậc Giác Ngộ quy định thành điều không được Bậc Giác Ngộ quy định, và điều được Bậc Giác Ngộ quy định thành điều được Bậc Giác Ngộ quy định. Dựa trên mười cơ sở này, họ không tách riêng và đi con đường riêng của mình. Họ không tự mình thực hiện các yết ma hay tự mình tụng đọc giới bổn. Đó là cách sự hòa hợp Tăng đoàn được định nghĩa."
AN 10.39 Với Ānanda (Thứ Nhất) Paṭhamaānandasutta
Rồi Tôn giả A Nan đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và thưa với Đức Phật:
"Bạch Thế Tôn, người ta nói về 'sự chia rẽ Tăng đoàn'. Sự chia rẽ Tăng đoàn được định nghĩa như thế nào?"
"Này A Nan, đó là khi một Tỳ kheo giải thích điều không phải là giáo pháp thành giáo pháp ... và điều được Bậc Giác Ngộ quy định thành điều không được Bậc Giác Ngộ quy định. Dựa trên mười cơ sở này, họ tách riêng và đi con đường riêng của mình. Họ tự mình thực hiện các yết ma và tự mình tụng đọc giới bổn. Đó là cách sự chia rẽ Tăng đoàn được định nghĩa."
"Nhưng bạch Thế Tôn, người chia rẽ một Tăng đoàn hòa hợp tạo ra điều gì?"
"Họ tạo ra một tội lỗi kéo dài một kiếp (eon / một đơn vị thời gian rất dài trong vũ trụ quan Phật giáo)."
"Nhưng bạch Thế Tôn, tội lỗi kéo dài một kiếp là gì?"
"Họ bị thiêu đốt trong địa ngục (hell / cảnh giới khổ đau cùng cực) một kiếp, này A Nan.
Người gây chia rẽ ở lại một kiếp
trong cảnh khổ (place of loss / các cõi tái sinh bất hạnh, đau khổ), trong địa ngục.
Chống lại giáo pháp,
thiên vị phe phái, họ phá hoại nơi nương tựa.
Sau khi gây chia rẽ Tăng đoàn hòa hợp,
họ bị thiêu đốt trong địa ngục một kiếp."
AN 10.40 Với Ānanda (Thứ Hai) Dutiyaānandasutta
"Bạch Thế Tôn, người ta nói về 'sự hòa hợp Tăng đoàn'. Sự hòa hợp Tăng đoàn được định nghĩa như thế nào?"
"Này A Nan, đó là khi một Tỳ kheo giải thích điều không phải là giáo pháp thành không phải là giáo pháp, và điều là giáo pháp thành giáo pháp. Họ giải thích điều không phải là sự tu tập thành không phải là sự tu tập, và điều là sự tu tập thành sự tu tập. Họ giải thích điều không được Bậc Giác Ngộ nói và tuyên bố thành điều không được Bậc Giác Ngộ nói và tuyên bố, và điều được Bậc Giác Ngộ nói và tuyên bố thành điều được Bậc Giác Ngộ nói và tuyên bố. Họ giải thích điều không được Bậc Giác Ngộ thực hành thành điều không được Bậc Giác Ngộ thực hành, và điều được Bậc Giác Ngộ thực hành thành điều được Bậc Giác Ngộ thực hành. Họ giải thích điều không được Bậc Giác Ngộ quy định thành điều không được Bậc Giác Ngộ quy định, và điều được Bậc Giác Ngộ quy định thành điều được Bậc Giác Ngộ quy định. Dựa trên mười cơ sở này, họ không tách riêng và đi con đường riêng của mình. Họ không tự mình thực hiện các yết ma hay tự mình tụng đọc giới bổn. Đó là cách sự hòa hợp Tăng đoàn được định nghĩa."
"Nhưng bạch Thế Tôn, người tạo ra sự hòa hợp trong một Tăng đoàn bị chia rẽ tạo ra điều gì?"
"Họ tạo ra phước báu thiêng liêng."
"Nhưng phước báu thiêng liêng là gì?"
"Họ hưởng niềm vui ở cõi trời (heaven / cảnh giới của chư thiên, nơi hưởng phước báu và hạnh phúc) một kiếp, này A Nan.
Tăng đoàn hòa hợp là hạnh phúc,
cũng như sự ủng hộ người hòa hợp.
Đứng vững trên giáo pháp,
ưa thích hòa hợp, họ không phá hoại nơi nương tựa nào.
Sau khi tạo hòa hợp trong Tăng đoàn,
họ hưởng vui ở cõi trời một kiếp."