Đại Phẩm
AN 10.21 Tiếng Rống Sư Tử Sīhanādasutta
"Này các Tỳ kheo, vào buổi chiều, sư tử, vua của các loài thú, ra khỏi hang, ngáp, nhìn khắp bốn phương, và rống lên tiếng rống sư tử ba lần. Sau đó, nó bắt đầu đi săn. Tại sao vậy? 'Mong rằng ta không làm hại bất kỳ sinh vật nhỏ bé nào trên vùng đất không rõ ràng.'
'Sư tử' là một danh từ chỉ bậc Như Lai (Realized One / Bậc Giác Ngộ, bậc đã nhận ra chân lý), bậc A la hán (perfected one / bậc đã hoàn thiện, đã đạt đến sự giải thoát hoàn toàn), bậc Chánh Đẳng Giác (fully awakened Buddha / bậc giác ngộ hoàn toàn và chân chính). Khi bậc Như Lai thuyết Pháp (Dhamma / Giáo Pháp, lời dạy của Đức Phật) cho hội chúng, đó chính là tiếng rống sư tử của Ngài.
Bậc Như Lai sở hữu mười Như Lai lực (ten powers of a Realized One / mười năng lực của bậc Như Lai). Với những năng lực này, Ngài chiếm giữ vị trí tối thượng (bull's place / vị trí của con bò đầu đàn, vị trí lãnh đạo, vị trí tối thượng), rống lên tiếng rống sư tử trong các hội chúng, và chuyển bánh xe Pháp (turns the divine wheel / vận hành bánh xe Giáo Pháp). Mười năng lực đó là gì? Thứ nhất, bậc Như Lai như thật tuệ tri (truly understands / biết rõ bằng trí tuệ) điều có thể là có thể và điều không thể là không thể. Vì Ngài như thật tuệ tri điều này, đây là một năng lực của bậc Như Lai. Dựa vào năng lực này, Ngài chiếm giữ vị trí tối thượng, rống lên tiếng rống sư tử trong các hội chúng, và chuyển bánh xe Pháp.
Hơn nữa, bậc Như Lai như thật tuệ tri kết quả của các nghiệp (deeds / hành động có chủ ý tạo ra kết quả) đã làm trong quá khứ, tương lai, và hiện tại về mặt phương diện và nguyên nhân (grounds and causes / cơ sở và lý do). Vì Ngài như thật tuệ tri điều này, đây là một năng lực của bậc Như Lai. ...
Hơn nữa, bậc Như Lai như thật tuệ tri nơi tất cả các đạo lộ (paths of practice / con đường tu tập) dẫn đến. Vì Ngài như thật tuệ tri điều này, đây là một năng lực của bậc Như Lai. ...
Hơn nữa, bậc Như Lai như thật tuệ tri thế giới với nhiều giới (elements / các yếu tố cấu thành) đa dạng và khác biệt của nó. Vì Ngài như thật tuệ tri điều này, đây là một năng lực của bậc Như Lai. ...
Hơn nữa, bậc Như Lai như thật tuệ tri các thắng giải (convictions / niềm tin mạnh mẽ, sự quyết đoán) đa dạng của chúng sanh (sentient beings / các loài hữu tình). Vì Ngài như thật tuệ tri điều này, đây là một năng lực của bậc Như Lai. ...
Hơn nữa, bậc Như Lai như thật tuệ tri các căn (faculties / khả năng, năng lực giác quan hoặc tinh thần) của các chúng sanh khác và các cá nhân khác sau khi thông hiểu chúng bằng tâm của Ngài. Vì Ngài như thật tuệ tri điều này, đây là một năng lực của bậc Như Lai. ...
Hơn nữa, bậc Như Lai như thật tuệ tri sự ô nhiễm, sự thanh tịnh, và sự xuất khởi liên quan đến các thiền (absorptions / các trạng thái thiền định sâu), các giải thoát (liberations / các trạng thái giải thoát tâm trí), các định (immersions / các trạng thái tập trung tâm ý), và các chứng đắc (attainments / sự đạt được các trạng thái tâm linh). Vì Ngài như thật tuệ tri điều này, đây là một năng lực của bậc Như Lai. ...
Hơn nữa, bậc Như Lai nhớ lại nhiều loại tiền kiếp (past lives / các đời sống trước). Đó là: một, hai, ba, bốn, năm, mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi, một trăm, một ngàn, một trăm ngàn lần tái sanh; nhiều kiếp (eons / một khoảng thời gian rất dài) thế giới co lại, nhiều kiếp thế giới giãn ra, nhiều kiếp thế giới co lại và giãn ra. Ngài nhớ: 'Ở đó, ta tên là thế này, dòng họ của ta là thế kia, ta trông như thế này, và đó là thức ăn của ta. Đây là cách ta cảm nhận lạc và khổ, và đó là cách cuộc đời ta kết thúc. Khi ta qua đời từ nơi đó, ta tái sanh ở một nơi khác. Ở đó, ta cũng tên là thế này, dòng họ của ta là thế kia, ta trông như thế này, và đó là thức ăn của ta. Đây là cách ta cảm nhận lạc và khổ, và đó là cách cuộc đời ta kết thúc. Khi ta qua đời từ nơi đó, ta tái sanh ở đây.' Như vậy, Ngài nhớ lại nhiều tiền kiếp của mình, với các đặc điểm và chi tiết. Vì Ngài như thật tuệ tri điều này, đây là một năng lực của bậc Như Lai. ...
Hơn nữa, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân (clairvoyance that is purified and superhuman / khả năng nhìn thấy vượt trội, đã được thanh lọc và vượt ngoài khả năng của người thường), bậc Như Lai thấy các chúng sanh chết đi và tái sanh—hạ liệt và cao thượng, đẹp đẽ và xấu xí, ở nơi tốt đẹp hay nơi khốn khổ. Ngài hiểu rõ các chúng sanh tái sanh như thế nào tùy theo nghiệp của họ. 'Những chúng sanh thân yêu này đã làm những điều xấu ác qua thân, khẩu, và ý. Họ phỉ báng các bậc Thánh (noble ones / những vị đã đạt được các cấp độ giác ngộ); họ có tà kiến (wrong view / quan điểm sai lầm); và họ đã chọn hành động theo tà kiến đó. Khi thân họ tan rã, sau khi chết, họ tái sanh ở nơi mất mát, nơi khốn khổ, địa ngục. Tuy nhiên, những chúng sanh thân yêu này đã làm những điều tốt lành qua thân, khẩu, và ý. Họ không bao giờ phỉ báng các bậc Thánh; họ có chánh kiến (right view / quan điểm đúng đắn); và họ đã chọn hành động theo chánh kiến đó. Khi thân họ tan rã, sau khi chết, họ tái sanh ở nơi tốt đẹp, cõi trời.' Và như vậy, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, Ngài thấy các chúng sanh chết đi và tái sanh—hạ liệt và cao thượng, đẹp đẽ và xấu xí, ở nơi tốt đẹp hay nơi khốn khổ. Ngài hiểu rõ các chúng sanh tái sanh như thế nào tùy theo nghiệp của họ. Vì Ngài như thật tuệ tri điều này, đây là một năng lực của bậc Như Lai. ...
Hơn nữa, bậc Như Lai đã chứng ngộ vô lậu tâm giải thoát và tuệ giải thoát (undefiled freedom of heart and freedom by wisdom / sự giải thoát của tâm không còn phiền não và sự giải thoát bằng trí tuệ) ngay trong đời này, và sống sau khi đã chứng ngộ điều đó bằng thắng trí (own insight / sự hiểu biết sâu sắc, trí tuệ vượt trội) của chính mình do sự đoạn tận các lậu hoặc (defilements / những ô nhiễm, phiền não tiềm ẩn làm rỉ chảy). Vì Ngài như thật tuệ tri điều này, đây là một năng lực của bậc Như Lai. ...
Đây là mười Như Lai lực mà bậc Như Lai sở hữu. Với những năng lực này, Ngài chiếm giữ vị trí tối thượng, rống lên tiếng rống sư tử trong các hội chúng, và chuyển bánh xe Pháp."
AN 10.22 Các Giả Thuyết Adhivuttipadasutta
Khi ấy, Tôn giả A Nan đến gặp Đức Phật, đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với Tôn giả:
"Này A Nan, Ta tự nhận là vững tin đối với các giáo huấn đưa đến việc nhận ra bằng tuệ giác các adhivutti (hypotheses / các giả thuyết, các quan điểm được chấp nhận) khác nhau. Vì vậy, Ta có thể thuyết Pháp theo những cách thích hợp cho những người khác nhau. Thực hành theo đó, khi có điều gì tồn tại, họ sẽ biết nó tồn tại. Khi nó không tồn tại, họ sẽ biết nó không tồn tại. Khi có điều gì là hạ liệt, họ sẽ biết nó hạ liệt. Khi nó là cao thượng, họ sẽ biết nó cao thượng. Khi có điều gì không phải là tối thượng, họ sẽ biết nó không phải là tối thượng. Khi nó là tối thượng, họ sẽ biết nó là tối thượng. Và họ sẽ biết hoặc thấy hoặc nhận ra nó theo bất kỳ cách nào nó nên được biết hoặc thấy hoặc nhận ra. Điều này là có thể. Nhưng đây là tri kiến vô thượng (unsurpassable knowledge / sự hiểu biết không gì hơn được), đó là: như thật biết rõ từng trường hợp một. Và này A Nan, Ta nói rằng không có tri kiến nào khác tốt hơn hay tinh tế hơn tri kiến này.
Bậc Như Lai sở hữu mười Như Lai lực. Với những năng lực này, Ngài chiếm giữ vị trí tối thượng, rống lên tiếng rống sư tử trong các hội chúng, và chuyển bánh xe Pháp. Mười năng lực đó là gì? Thứ nhất, bậc Như Lai như thật tuệ tri điều có thể là có thể, và điều không thể là không thể. Vì Ngài như thật tuệ tri điều này, đây là một năng lực của bậc Như Lai. Dựa vào năng lực này, Ngài chiếm giữ vị trí tối thượng, rống lên tiếng rống sư tử trong các hội chúng, và chuyển bánh xe Pháp.
Hơn nữa, bậc Như Lai như thật tuệ tri kết quả của các nghiệp đã làm trong quá khứ, tương lai, và hiện tại về mặt phương diện và nguyên nhân. Vì Ngài như thật tuệ tri điều này, đây là một năng lực của bậc Như Lai. ...
Hơn nữa, bậc Như Lai như thật tuệ tri nơi tất cả các đạo lộ dẫn đến. Vì Ngài như thật tuệ tri điều này, đây là một năng lực của bậc Như Lai. ...
Hơn nữa, bậc Như Lai như thật tuệ tri thế giới với nhiều giới đa dạng và khác biệt của nó. Vì Ngài như thật tuệ tri điều này, đây là một năng lực của bậc Như Lai. ...
Hơn nữa, bậc Như Lai như thật tuệ tri các thắng giải đa dạng của chúng sanh. Vì Ngài như thật tuệ tri điều này, đây là một năng lực của bậc Như Lai. ...
Hơn nữa, bậc Như Lai như thật tuệ tri các căn của các chúng sanh khác và các cá nhân khác sau khi thông hiểu chúng bằng tâm của Ngài. Vì Ngài như thật tuệ tri điều này, đây là một năng lực của bậc Như Lai. ...
Hơn nữa, bậc Như Lai như thật tuệ tri sự ô nhiễm, sự thanh tịnh, và sự xuất khởi liên quan đến các thiền, các giải thoát, các định, và các chứng đắc. Vì Ngài như thật tuệ tri điều này, đây là một năng lực của bậc Như Lai. ...
Hơn nữa, bậc Như Lai nhớ lại nhiều loại tiền kiếp, với các đặc điểm và chi tiết. Vì Ngài như thật tuệ tri điều này, đây là một năng lực của bậc Như Lai. ...
Hơn nữa, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, bậc Như Lai thấy các chúng sanh chết đi và tái sanh—hạ liệt và cao thượng, đẹp đẽ và xấu xí, ở nơi tốt đẹp hay nơi khốn khổ. Ngài hiểu rõ các chúng sanh tái sanh như thế nào tùy theo nghiệp của họ. Vì Ngài như thật tuệ tri điều này, đây là một năng lực của bậc Như Lai. ...
Hơn nữa, bậc Như Lai đã chứng ngộ vô lậu tâm giải thoát và tuệ giải thoát ngay trong đời này, và sống sau khi đã chứng ngộ điều đó bằng thắng trí của chính mình do sự đoạn tận các lậu hoặc. Vì Ngài như thật tuệ tri điều này, đây là một năng lực của bậc Như Lai. ...
Đây là mười Như Lai lực mà bậc Như Lai sở hữu. Với những năng lực này, Ngài chiếm giữ vị trí tối thượng, rống lên tiếng rống sư tử trong các hội chúng, và chuyển bánh xe Pháp."
AN 10.23 Thân Kāyasutta
"Này các Tỳ kheo, có những điều cần từ bỏ bằng thân, không phải bằng lời. Có những điều cần từ bỏ bằng lời, không phải bằng thân. Có những điều cần từ bỏ không phải bằng thân, cũng không phải bằng lời, mà bằng cách thấy đi thấy lại bằng trí tuệ.
Và những điều gì cần từ bỏ bằng thân, không phải bằng lời? Đó là khi một Tỳ kheo đã phạm một lỗi bất thiện nào đó qua thân. Sau khi xem xét, những người bạn đồng tu có trí nói với vị ấy: 'Thưa Tôn giả, ngài đã phạm một lỗi bất thiện nào đó qua thân. Xin hãy từ bỏ hành vi xấu ác về thân đó và phát triển hành vi tốt đẹp về thân.' Khi được những người bạn đồng tu có trí nói như vậy, vị ấy từ bỏ hành vi xấu ác về thân đó và phát triển hành vi tốt đẹp về thân. Đây là những điều cần từ bỏ bằng thân, không phải bằng lời.
Và những điều gì cần từ bỏ bằng lời, không phải bằng thân? Đó là khi một Tỳ kheo đã phạm một lỗi bất thiện nào đó qua lời nói. Sau khi xem xét, những người bạn đồng tu có trí nói với vị ấy: 'Thưa Tôn giả, ngài đã phạm một lỗi bất thiện nào đó qua lời nói. Xin hãy từ bỏ hành vi xấu ác về lời nói đó và phát triển hành vi tốt đẹp về lời nói.' Khi được những người bạn đồng tu có trí nói như vậy, vị ấy từ bỏ hành vi xấu ác về lời nói đó và phát triển hành vi tốt đẹp về lời nói. Đây là những điều cần từ bỏ bằng lời, không phải bằng thân.
Và những điều gì cần từ bỏ không phải bằng thân, cũng không phải bằng lời, mà bằng cách thấy đi thấy lại bằng trí tuệ? Tham (Greed / lòng tham) ... Sân (Hate / lòng căm ghét, tức giận) ... Si (Delusion / sự mê lầm, không nhận rõ sự thật) ... Phẫn nộ (Anger / sự giận dữ mạnh mẽ) ... Hiềm hận (Acrimony / sự oán ghét, cay nghiệt) ... Mạn (Disdain / sự khinh miệt, coi thường người khác) ... Quá mạn (Contempt / sự kiêu ngạo quá mức, khinh bỉ) ... và Xan tham (Stinginess / sự keo kiệt, bủn xỉn) là những điều cần từ bỏ không phải bằng thân, cũng không phải bằng lời, mà bằng cách thấy đi thấy lại bằng trí tuệ.
Tật đố hiểm ác (Nasty jealousy / sự ganh tỵ xấu xa) cần được từ bỏ không phải bằng thân, cũng không phải bằng lời, mà bằng cách thấy đi thấy lại bằng trí tuệ. Và tật đố hiểm ác là gì? Đó là khi một gia chủ hay con cái của họ đang thịnh vượng về tiền bạc, ngũ cốc, bạc, hay vàng. Và một người làm công hay người phụ thuộc nghĩ rằng: 'Ôi, mong sao gia chủ đó hay con cái của họ không thịnh vượng về tiền bạc, ngũ cốc, bạc, hay vàng!' Hoặc một Sa môn (ascetic / người tu hành khổ hạnh) hay Bà la môn (brahmin / tu sĩ thuộc giai cấp Bà la môn) nhận được y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, và thuốc men cùng vật dụng cho người bệnh. Và một Sa môn hay Bà la môn khác nghĩ rằng: 'Ôi, mong sao Sa môn hay Bà la môn đó không nhận được y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, và thuốc men cùng vật dụng cho người bệnh.' Đây gọi là tật đố hiểm ác.
Ước muốn xấu xa (Corrupt wishes / những mong cầu không chân chính) cần được từ bỏ không phải bằng thân, cũng không phải bằng lời, mà bằng cách thấy đi thấy lại bằng trí tuệ. Và ước muốn xấu xa là gì? Đó là khi một người không có niềm tin lại muốn được biết đến là người có niềm tin. Một người không có đạo đức lại muốn được biết đến là người có đạo đức. Một người ít học lại muốn được biết đến là người học rộng. Một người thích hội chúng lại muốn được biết đến là người độc cư (secluded / sống một mình, xa lánh). Một người lười biếng lại muốn được biết đến là người tinh tấn (energetic / siêng năng, nỗ lực). Một người thất niệm lại muốn được biết đến là người có chánh niệm (mindful / sự tỉnh thức, nhớ nghĩ đúng đắn). Một người không có định lại muốn được biết đến là người có định. Một người không có trí tuệ lại muốn được biết đến là người có trí tuệ. Một người chưa đoạn tận các lậu hoặc lại muốn được biết đến là người đã đoạn tận các lậu hoặc. Đây gọi là ước muốn xấu xa. Ước muốn xấu xa cần được từ bỏ không phải bằng thân, cũng không phải bằng lời, mà bằng cách thấy đi thấy lại bằng trí tuệ.
Giả sử rằng tham chi phối Tỳ kheo ấy và tiếp tục tồn tại. Hoặc sân ... si ... phẫn nộ ... hiềm hận ... mạn ... quá mạn ... xan tham ... tật đố hiểm ác ... hoặc ước muốn xấu xa chi phối vị ấy và tiếp tục tồn tại. Các ngươi nên biết về vị ấy: 'Vị tôn giả này không có sự hiểu biết để loại trừ tham, nên tham chi phối vị ấy và tiếp tục tồn tại. Vị ấy không có sự hiểu biết để loại trừ sân ... si ... phẫn nộ ... hiềm hận ... mạn ... quá mạn ... xan tham ... tật đố hiểm ác ... hoặc ước muốn xấu xa, nên ước muốn xấu xa chi phối vị ấy và tiếp tục tồn tại.'
Giả sử rằng tham không chi phối Tỳ kheo ấy và không tiếp tục tồn tại. Hoặc sân ... si ... phẫn nộ ... hiềm hận ... mạn ... quá mạn ... xan tham ... tật đố hiểm ác ... hoặc ước muốn xấu xa không chi phối Tỳ kheo ấy và không tiếp tục tồn tại. Các ngươi nên biết về vị ấy: 'Vị tôn giả này có sự hiểu biết để loại trừ tham, nên tham không chi phối vị ấy và không tiếp tục tồn tại. Vị ấy có sự hiểu biết để loại trừ sân ... si ... phẫn nộ ... hiềm hận ... mạn ... quá mạn ... xan tham ... tật đố hiểm ác ... và ước muốn xấu xa, nên ước muốn xấu xa không chi phối vị ấy và không tiếp tục tồn tại.'"
AN 10.24 Bởi Ma Ha Châu Na Mahācundasutta
Một thời, Tôn giả Ma Ha Châu Na trú ở xứ Cetī, tại Sahajāti. Tại đó, Tôn giả nói với các Tỳ kheo: "Thưa các Hiền giả, các Tỳ kheo!"
"Thưa Hiền giả," họ đáp. Tôn giả Ma Ha Châu Na nói điều này:
"Thưa các Hiền giả, một Tỳ kheo tuyên bố về tri kiến rằng: 'Tôi biết giáo pháp này, tôi thấy giáo pháp này.' Giả sử rằng tham chi phối Tỳ kheo ấy và tiếp tục tồn tại. Hoặc sân ... si ... phẫn nộ ... hiềm hận ... mạn ... quá mạn ... xan tham ... tật đố hiểm ác ... hoặc ước muốn xấu xa chi phối Tỳ kheo ấy và tiếp tục tồn tại. Các vị nên biết về vị ấy: 'Vị tôn giả này không có sự hiểu biết để loại trừ tham, nên tham chi phối vị ấy và tiếp tục tồn tại. Vị ấy không có sự hiểu biết để loại trừ sân ... si ... phẫn nộ ... hiềm hận ... mạn ... quá mạn ... xan tham ... tật đố hiểm ác ... hoặc ước muốn xấu xa, nên ước muốn xấu xa chi phối vị ấy và tiếp tục tồn tại.'
Một Tỳ kheo tuyên bố về sự tu tập (development / sự rèn luyện, phát triển tâm linh) rằng: 'Tôi đã phát triển về sức chịu đựng của thân, giới đức, tâm, và trí tuệ.' Giả sử rằng tham chi phối Tỳ kheo ấy và tiếp tục tồn tại. Hoặc sân ... si ... phẫn nộ ... hiềm hận ... mạn ... quá mạn ... xan tham ... tật đố hiểm ác ... hoặc ước muốn xấu xa chi phối Tỳ kheo ấy và tiếp tục tồn tại. Các vị nên biết về vị ấy: 'Vị tôn giả này không có sự hiểu biết để loại trừ tham, nên tham chi phối vị ấy và tiếp tục tồn tại. Vị ấy không có sự hiểu biết để loại trừ sân ... si ... phẫn nộ ... hiềm hận ... mạn ... quá mạn ... xan tham ... tật đố hiểm ác ... hoặc ước muốn xấu xa, nên ước muốn xấu xa chi phối vị ấy và tiếp tục tồn tại.'
Một Tỳ kheo tuyên bố về cả tri kiến và sự tu tập rằng: 'Tôi biết giáo pháp này, tôi thấy giáo pháp này. Và tôi đã phát triển về sức chịu đựng của thân, giới đức, tâm, và trí tuệ.' Giả sử rằng tham chi phối Tỳ kheo ấy và tiếp tục tồn tại. Hoặc sân ... si ... phẫn nộ ... hiềm hận ... mạn ... quá mạn ... xan tham ... tật đố hiểm ác ... hoặc ước muốn xấu xa chi phối Tỳ kheo ấy và tiếp tục tồn tại. Các vị nên biết về vị ấy: 'Vị tôn giả này không có sự hiểu biết để loại trừ tham, nên tham chi phối vị ấy và tiếp tục tồn tại. Vị ấy không có sự hiểu biết để loại trừ sân ... si ... phẫn nộ ... hiềm hận ... mạn ... quá mạn ... xan tham ... tật đố hiểm ác ... hoặc ước muốn xấu xa, nên ước muốn xấu xa chi phối vị ấy và tiếp tục tồn tại.'
Giả sử một người nghèo khổ, thiếu thốn, không một xu dính túi lại tuyên bố mình là người giàu có, sung túc, nhiều của cải. Nhưng khi đến lúc phải thanh toán, họ không thể kiếm ra tiền bạc, ngũ cốc, bạc, hay vàng. Người ta sẽ biết về họ: 'Người này tuyên bố mình là người giàu có, sung túc, nhiều của cải, nhưng thực ra họ nghèo khổ, không một xu dính túi, và thiếu thốn.' Tại sao vậy? Bởi vì khi đến lúc phải thanh toán, họ không thể kiếm ra tiền bạc, ngũ cốc, bạc, hay vàng.
Cũng vậy, một Tỳ kheo tuyên bố về tri kiến và sự tu tập rằng: 'Tôi biết giáo pháp này, tôi thấy giáo pháp này. Và tôi đã phát triển về sức chịu đựng của thân, giới đức, tâm, và trí tuệ.' Giả sử rằng tham chi phối Tỳ kheo ấy và tiếp tục tồn tại. Hoặc sân ... si ... phẫn nộ ... hiềm hận ... mạn ... quá mạn ... xan tham ... tật đố hiểm ác ... hoặc ước muốn xấu xa chi phối Tỳ kheo ấy và tiếp tục tồn tại. Các vị nên biết về vị ấy: 'Vị tôn giả này không có sự hiểu biết để loại trừ tham, nên tham chi phối vị ấy và tiếp tục tồn tại. Vị ấy không có sự hiểu biết để loại trừ sân ... si ... phẫn nộ ... hiềm hận ... mạn ... quá mạn ... xan tham ... tật đố hiểm ác ... hoặc ước muốn xấu xa, nên ước muốn xấu xa chi phối vị ấy và tiếp tục tồn tại.'
Một Tỳ kheo tuyên bố về tri kiến rằng: 'Tôi biết giáo pháp này, tôi thấy giáo pháp này.' Giả sử rằng tham không chi phối Tỳ kheo ấy và không tiếp tục tồn tại. Hoặc sân ... si ... phẫn nộ ... hiềm hận ... mạn ... quá mạn ... xan tham ... tật đố hiểm ác ... hoặc ước muốn xấu xa không chi phối Tỳ kheo ấy và không tiếp tục tồn tại. Các vị nên biết về vị ấy: 'Vị tôn giả này có sự hiểu biết để loại trừ tham, nên tham không chi phối vị ấy và không tiếp tục tồn tại. Vị ấy có sự hiểu biết để loại trừ sân ... si ... phẫn nộ ... hiềm hận ... mạn ... quá mạn ... xan tham ... tật đố hiểm ác ... và ước muốn xấu xa, nên ước muốn xấu xa không chi phối vị ấy và không tiếp tục tồn tại.'
Một Tỳ kheo tuyên bố về sự tu tập rằng: 'Tôi đã phát triển về sức chịu đựng của thân, giới đức, tâm, và trí tuệ.' Giả sử rằng tham không chi phối Tỳ kheo ấy và không tiếp tục tồn tại. Hoặc sân ... si ... phẫn nộ ... hiềm hận ... mạn ... quá mạn ... xan tham ... tật đố hiểm ác ... hoặc ước muốn xấu xa không chi phối Tỳ kheo ấy và không tiếp tục tồn tại. Các vị nên biết về vị ấy: 'Vị tôn giả này có sự hiểu biết để loại trừ tham, nên tham không chi phối vị ấy và không tiếp tục tồn tại. Vị ấy có sự hiểu biết để loại trừ sân ... si ... phẫn nộ ... hiềm hận ... mạn ... quá mạn ... xan tham ... tật đố hiểm ác ... và ước muốn xấu xa, nên ước muốn xấu xa không chi phối vị ấy và không tiếp tục tồn tại.'
Một Tỳ kheo tuyên bố về cả tri kiến và sự tu tập rằng: 'Tôi biết giáo pháp này, tôi thấy giáo pháp này. Và tôi đã phát triển về sức chịu đựng của thân, giới đức, tâm, và trí tuệ.' Giả sử rằng tham không chi phối Tỳ kheo ấy và không tiếp tục tồn tại. Hoặc sân ... si ... phẫn nộ ... hiềm hận ... mạn ... quá mạn ... xan tham ... tật đố hiểm ác ... hoặc ước muốn xấu xa không chi phối Tỳ kheo ấy và không tiếp tục tồn tại. Các vị nên biết về vị ấy: 'Vị tôn giả này có sự hiểu biết để loại trừ tham, nên tham không chi phối vị ấy và không tiếp tục tồn tại. Vị ấy có sự hiểu biết để loại trừ sân ... si ... phẫn nộ ... hiềm hận ... mạn ... quá mạn ... xan tham ... tật đố hiểm ác ... và ước muốn xấu xa, nên ước muốn xấu xa không chi phối vị ấy và không tiếp tục tồn tại.'
Giả sử một người giàu có, sung túc, nhiều của cải tuyên bố mình là người giàu có, sung túc, nhiều của cải. Và bất cứ khi nào đến lúc phải thanh toán, họ đều có thể kiếm ra tiền bạc, ngũ cốc, bạc, hay vàng. Người ta sẽ biết về họ: 'Người này tuyên bố mình là người giàu có, sung túc, nhiều của cải, và thực sự họ là người giàu có, sung túc, nhiều của cải.' Tại sao vậy? Bởi vì khi đến lúc phải thanh toán, họ đều có thể kiếm ra tiền bạc, ngũ cốc, bạc, hay vàng.
Cũng vậy, một Tỳ kheo tuyên bố về tri kiến và sự tu tập rằng: 'Tôi biết giáo pháp này, tôi thấy giáo pháp này. Và tôi đã phát triển về sức chịu đựng của thân, giới đức, tâm, và trí tuệ.' Giả sử rằng tham không chi phối Tỳ kheo ấy và không tiếp tục tồn tại. Hoặc sân ... si ... phẫn nộ ... hiềm hận ... mạn ... quá mạn ... xan tham ... tật đố hiểm ác ... hoặc ước muốn xấu xa không chi phối Tỳ kheo ấy và không tiếp tục tồn tại. Các vị nên biết về vị ấy: 'Vị tôn giả này có sự hiểu biết để loại trừ tham, nên tham không chi phối vị ấy và không tiếp tục tồn tại. Vị ấy có sự hiểu biết để loại trừ sân ... si ... phẫn nộ ... hiềm hận ... mạn ... quá mạn ... xan tham ... tật đố hiểm ác ... và ước muốn xấu xa, nên ước muốn xấu xa không chi phối vị ấy và không tiếp tục tồn tại.'"
AN 10.25 Thiền Biến Xứ Kasiṇasutta
"Này các Tỳ kheo, có mười đề mục thiền biến xứ (universal / phổ quát, bao trùm khắp nơi, dùng trong thiền định) này. Mười đề mục đó là gì? Một người nhận thức đề mục đất biến xứ ở trên, dưới, ngang, không phân chia và vô biên. Họ nhận thức đề mục nước biến xứ ... đề mục lửa biến xứ ... đề mục gió biến xứ ... đề mục xanh biến xứ ... đề mục vàng biến xứ ... đề mục đỏ biến xứ ... đề mục trắng biến xứ ... đề mục không gian biến xứ ... Họ nhận thức đề mục thức biến xứ ở trên, dưới, ngang, không phân chia và vô biên. Đây là mười đề mục thiền biến xứ."
AN 10.26 Với Kāḷī Kāḷīsutta
Một thời, Tôn giả Ma Ha Ca Chiên Diên trú ở xứ Avanti, gần Kuraraghara trên núi Dốc.
Khi ấy, nữ cư sĩ Kāḷī ở Kurughara đến gặp Tôn giả Ma Ha Ca Chiên Diên, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và nói với Tôn giả: "Thưa ngài, điều này đã được Đức Phật nói trong 'Kinh Các Câu Hỏi Của Thiếu Nữ':
'Ta đã đạt mục đích, tâm được an tịnh.
Đã chiến thắng đạo quân
>của những gì đáng ưa và dễ chịu,
một mình, tu tập thiền định, Ta đã giác ngộ niềm phúc lạc.
Vì thế, Ta không quá gần gũi với mọi người,
và không ai quá gần gũi với Ta.'
Chúng con nên hiểu ý nghĩa chi tiết của lời tuyên bố ngắn gọn này của Đức Phật như thế nào?"
"Này chị, một số Sa môn và Bà la môn coi sự chứng đắc thiền đất biến xứ là tối hậu (ultimate / cuối cùng, cao nhất). Nghĩ rằng 'đây là mục đích', họ tái sanh. Đức Phật đã trực tiếp biết mức độ mà sự chứng đắc thiền đất biến xứ là tối hậu. Trực tiếp biết điều này, Ngài thấy sự khởi đầu, sự nguy hại, và sự thoát ly. Và Ngài thấy tri kiến về đâu là con đường và đâu không phải là con đường. Bởi vì Ngài thấy sự khởi đầu, sự nguy hại, và sự thoát ly, và Ngài thấy tri kiến về đâu là con đường và đâu không phải là con đường, Ngài biết rằng Ngài đã đạt mục đích, tâm được an tịnh.
Một số Sa môn và Bà la môn coi sự chứng đắc thiền nước biến xứ là tối hậu. Nghĩ rằng 'đây là mục đích', họ tái sanh. ... Một số Sa môn và Bà la môn coi sự chứng đắc thiền lửa biến xứ ... gió biến xứ ... xanh biến xứ ... vàng biến xứ ... đỏ biến xứ ... trắng biến xứ ... không gian biến xứ ... thức biến xứ là tối hậu. Nghĩ rằng 'đây là mục đích', họ tái sanh. Đức Phật đã trực tiếp biết mức độ mà sự chứng đắc thiền thức biến xứ là tối hậu. Trực tiếp biết điều này, Ngài thấy sự khởi đầu, sự nguy hại, và sự thoát ly. Và Ngài thấy tri kiến về đâu là con đường và đâu không phải là con đường. Bởi vì Ngài thấy sự khởi đầu, sự nguy hại, và sự thoát ly, và Ngài thấy tri kiến về đâu là con đường và đâu không phải là con đường, Ngài biết rằng Ngài đã đạt mục đích, tâm được an tịnh.
Vì vậy, này chị, đó là cách để hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì Đức Phật đã nói ngắn gọn trong 'Kinh Các Câu Hỏi Của Thiếu Nữ':
'Ta đã đạt mục đích, tâm được an tịnh.
Đã chiến thắng đạo quân
của những gì đáng ưa và dễ chịu,
một mình, tu tập thiền định, Ta đã giác ngộ niềm phúc lạc.
Vì thế, Ta không quá gần gũi với mọi người,
và không ai quá gần gũi với Ta.'"
AN 10.27 Các Câu Hỏi Lớn (Thứ Nhất) Paṭhamamahāpañhāsutta
Một thời, Đức Phật trú gần Sāvatthī, tại Kỳ Viên, tu viện của ông Anāthapiṇḍika (Cấp Cô Độc).
Khi ấy, một số Tỳ kheo đắp y vào buổi sáng, mang bát và y, vào thành Sāvatthī để khất thực. Rồi các vị ấy nghĩ: "Còn quá sớm để đi khất thực ở Sāvatthī. Sao chúng ta không đến thăm tu viện của các du sĩ ngoại đạo (wanderers of other religions / những người tu hành không theo Phật giáo, thường đi lang thang)?"
Sau đó, các vị ấy đến tu viện của các du sĩ ngoại đạo và trao đổi lời chào hỏi với các du sĩ ở đó. Khi việc chào hỏi và chuyện trò lịch sự kết thúc, các vị ấy ngồi xuống một bên. Các du sĩ nói với họ:
"Thưa các Hiền giả, Sa môn Cồ Đàm dạy các đệ tử của mình như thế này: 'Này các Tỳ kheo, xin hãy trực tiếp biết tất cả các pháp. Hãy thiền định sau khi đã trực tiếp biết tất cả các pháp.' Chúng tôi cũng dạy các đệ tử của mình: 'Thưa các Hiền giả, xin hãy trực tiếp biết tất cả các pháp. Hãy sống sau khi đã trực tiếp biết tất cả các pháp.' Vậy thì, sự khác biệt giữa giáo huấn và chỉ dẫn của Sa môn Cồ Đàm và của chúng tôi là gì?"
Các Tỳ kheo ấy không tán thành cũng không bác bỏ lời tuyên bố đó của các du sĩ ngoại đạo. Các vị ấy đứng dậy khỏi chỗ ngồi, nghĩ rằng: "Chúng ta sẽ học ý nghĩa của lời tuyên bố này từ chính Đức Phật."
Sau đó, sau bữa ăn, khi trở về từ khất thực, các vị ấy đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và kể lại cho Ngài những gì đã xảy ra.
"Này các Tỳ kheo, khi các du sĩ ngoại đạo nói như vậy, các ngươi nên nói với họ: 'Một pháp: câu hỏi, tóm tắt và trả lời. Hai ... ba ... bốn ... năm ... sáu ... bảy ... tám ... chín ... mười pháp: câu hỏi, tóm tắt và trả lời.' Bị hỏi như vậy, các du sĩ ngoại đạo sẽ bí lối, và hơn nữa, sẽ bực bội. Tại sao vậy? Bởi vì điều đó ngoài tầm hiểu biết của họ. Ta không thấy ai trong thế giới này—với các vị trời, Ma vương (Māras / các vị vua của loài ma, biểu tượng cho cám dỗ và trở ngại), và Phạm thiên (Divinities / các vị trời ở cõi sắc giới và vô sắc giới), quần chúng này với các Sa môn và Bà la môn, các vị trời và loài người—có thể đưa ra câu trả lời thỏa đáng cho những câu hỏi này ngoại trừ bậc Như Lai hoặc đệ tử của Ngài hoặc người nào đã nghe điều đó từ các vị ấy.
'Một pháp: câu hỏi, tóm tắt và trả lời.' Đó là những gì Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Hoàn toàn nhàm chán (disillusioned / yếm ly, không còn ảo tưởng, thấy rõ sự thật), ly tham (dispassionate / không còn ham muốn), và giải thoát đối với một pháp, thấy rõ giới hạn của nó và hoàn toàn thông hiểu ý nghĩa của nó, một Tỳ kheo chấm dứt khổ đau ngay trong đời này. Một pháp đó là gì? 'Tất cả chúng sanh tồn tại nhờ thực (food / thức ăn, vật thực nuôi dưỡng).' Hoàn toàn nhàm chán, ly tham, và giải thoát đối với một pháp này, thấy rõ giới hạn của nó và hoàn toàn thông hiểu ý nghĩa của nó, một Tỳ kheo chấm dứt khổ đau ngay trong đời này. 'Một pháp: câu hỏi, tóm tắt và trả lời.' Đó là những gì Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.
Hai pháp là gì? Danh (Name / phần tinh thần, tâm lý) và Sắc (Form / phần vật chất, thân thể). ...
Ba pháp là gì? Ba thọ (feelings / cảm giác dễ chịu, khó chịu, hoặc trung tính). ...
Bốn pháp là gì? Bốn loại thức ăn. ...
Năm pháp là gì? Năm thủ uẩn (grasping aggregates / năm nhóm yếu tố bị chấp thủ tạo nên cá nhân: sắc, thọ, tưởng, hành, thức). ...
Sáu pháp là gì? Sáu nội xứ (interior sense fields / sáu giác quan bên trong: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý). ...
Bảy pháp là gì? Bảy thức trú (planes of consciousness / các cảnh giới mà ý thức có thể trú ngụ). ...
Tám pháp là gì? Tám thế gian pháp (worldly conditions / tám điều kiện của thế gian: được-mất, danh-không danh, khen-chê, vui-khổ). ...
Chín pháp là gì? Chín chúng sanh trú (abodes of sentient beings / chín cõi mà chúng sanh có thể sinh sống). ...
'Mười pháp: câu hỏi, tóm tắt và trả lời.' Đó là những gì Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Hoàn toàn nhàm chán, ly tham, và giải thoát đối với mười pháp, thấy rõ giới hạn của chúng và hoàn toàn thông hiểu ý nghĩa của chúng, một Tỳ kheo chấm dứt khổ đau ngay trong đời này. Mười pháp đó là gì? Mười cách thực hiện bất thiện nghiệp (unskillful deeds / hành động xấu ác). Hoàn toàn nhàm chán, ly tham, và giải thoát đối với mười pháp này, thấy rõ giới hạn của chúng và hoàn toàn thông hiểu ý nghĩa của chúng, một Tỳ kheo chấm dứt khổ đau ngay trong đời này. 'Mười pháp: câu hỏi, tóm tắt và trả lời.' Đó là những gì Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy."
AN 10.28 Các Câu Hỏi Lớn (Thứ Hai) Dutiyamahāpañhāsutta
Một thời, Đức Phật trú gần Kajaṅgalā trong một khu rừng tre. Khi ấy, một số cư sĩ tại gia ở Kajaṅgalā đến gặp Tỳ kheo ni Kajaṅgalikā, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và nói với vị ấy:
"Thưa Sư cô, điều này đã được Đức Phật nói trong 'Các Câu Hỏi Lớn': 'Một pháp: câu hỏi, tóm tắt và trả lời. Hai ... ba ... bốn ... năm ... sáu ... bảy ... tám ... chín ... mười pháp: câu hỏi, tóm tắt và trả lời.' Chúng con nên hiểu ý nghĩa chi tiết của lời tuyên bố ngắn gọn này của Đức Phật như thế nào?"
"Này quý vị thiện nam tín nữ, tôi chưa từng nghe và học điều này trực tiếp từ Đức Phật hay từ các Tỳ kheo đáng kính. Nhưng theo như tôi hiểu, xin hãy lắng nghe và chú tâm suy nghĩ, tôi sẽ nói."
"Vâng, thưa Sư cô," các cư sĩ tại gia đáp. Tỳ kheo ni Kajaṅgalikā nói điều này:
"'Một pháp: câu hỏi, tóm tắt và trả lời.' Đó là những gì Đức Phật đã nói, nhưng tại sao Ngài lại nói vậy? Hoàn toàn nhàm chán, ly tham, và giải thoát đối với một pháp, thấy rõ giới hạn của nó và hoàn toàn thông hiểu ý nghĩa của nó, một Tỳ kheo chấm dứt khổ đau ngay trong đời này. Một pháp đó là gì? 'Tất cả chúng sanh tồn tại nhờ thức ăn.' Hoàn toàn nhàm chán, ly tham, và giải thoát đối với một pháp này, thấy rõ giới hạn của nó và hoàn toàn thông hiểu ý nghĩa của nó, một Tỳ kheo chấm dứt khổ đau ngay trong đời này. 'Một pháp: câu hỏi, tóm tắt và trả lời.' Đó là những gì Đức Phật đã nói, và đây là lý do tại sao Ngài nói vậy.
Hai pháp là gì? Danh và sắc. ... Ba pháp là gì? Ba cảm thọ. ...
Với tâm được phát triển tốt đẹp trong bốn pháp—thấy rõ giới hạn của chúng và hoàn toàn thông hiểu ý nghĩa của chúng—một Tỳ kheo chấm dứt khổ đau ngay trong đời này. Bốn pháp đó là gì? Bốn loại thiền niệm xứ (mindfulness meditation / sự quán niệm trên thân, thọ, tâm, pháp). ... Với tâm được phát triển tốt đẹp trong bốn pháp này—thấy rõ giới hạn của chúng và hoàn toàn thông hiểu ý nghĩa của chúng—một Tỳ kheo chấm dứt khổ đau ngay trong đời này. ...
Năm pháp là gì? Năm căn. ... Sáu pháp là gì? Sáu xuất ly giới (elements of escape / các yếu tố đưa đến sự thoát khỏi khổ đau). ... Bảy pháp là gì? Bảy giác chi (awakening factors / bảy yếu tố dẫn đến sự giác ngộ: niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả). ... Tám pháp là gì? Bát chánh đạo (noble eightfold path / con đường tám nhánh cao quý: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định). ...
Hoàn toàn nhàm chán, ly tham, và giải thoát đối với chín pháp, thấy rõ giới hạn của chúng và hoàn toàn thông hiểu ý nghĩa của chúng, một Tỳ kheo chấm dứt khổ đau ngay trong đời này. Chín pháp đó là gì? Chín trú xứ của chúng sanh. Hoàn toàn nhàm chán, ly tham, và giải thoát đối với chín pháp này, thấy rõ giới hạn của chúng và hoàn toàn thông hiểu ý nghĩa của chúng, một Tỳ kheo chấm dứt khổ đau ngay trong đời này.
'Mười pháp: câu hỏi, tóm tắt và trả lời.' Đó là những gì Đức Phật đã nói, nhưng tại sao Ngài lại nói vậy? Phát triển tốt đẹp trong mười pháp—thấy rõ giới hạn của chúng và hoàn toàn thông hiểu ý nghĩa của chúng—một Tỳ kheo chấm dứt khổ đau ngay trong đời này. Mười pháp đó là gì? Mười cách thực hiện thiện nghiệp (skillful deeds / hành động tốt lành). Với tâm được phát triển tốt đẹp trong mười pháp này—thấy rõ giới hạn của chúng và hoàn toàn thông hiểu ý nghĩa của chúng—một Tỳ kheo chấm dứt khổ đau ngay trong đời này. 'Mười pháp: câu hỏi, tóm tắt và trả lời.' Đó là những gì Đức Phật đã nói, và đây là lý do tại sao Ngài nói vậy.
Đó là cách tôi hiểu ý nghĩa chi tiết của những gì Đức Phật đã nói ngắn gọn trong 'Các Câu Hỏi Lớn'. Nếu quý vị muốn, quý vị có thể đến gặp Đức Phật và hỏi Ngài về điều này. Quý vị nên ghi nhớ nó theo đúng câu trả lời của Đức Phật."
"Vâng, thưa Sư cô," các cư sĩ tại gia ấy đáp, tán thành và đồng ý với những gì Tỳ kheo ni Kajaṅgalikā đã nói. Sau đó, họ đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ, và kính cẩn đi nhiễu quanh vị ấy, giữ vị ấy ở bên phải mình. Rồi họ đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và thông báo cho Đức Phật tất cả những gì họ đã thảo luận.
"Tốt lắm, tốt lắm, các gia chủ. Tỳ kheo ni Kajaṅgalikā rất sắc sảo, vị ấy có trí tuệ lớn. Nếu các ngươi đến gặp Ta và hỏi câu hỏi này, Ta cũng sẽ trả lời giống hệt như Tỳ kheo ni Kajaṅgalikā. Đó chính là ý nghĩa của nó, và các ngươi nên ghi nhớ như vậy."
AN 10.29 Kosala (Thứ Nhất) Paṭhamakosalasutta
"Trong phạm vi xứ Kāsi và Kosala, và trong phạm vi quyền cai trị của Vua Ba Tư Nặc xứ Kosala, Vua Ba Tư Nặc được cho là tối thắng. Nhưng ngay cả Vua Ba Tư Nặc cũng suy tàn và hoại diệt.
Thấy điều này, một vị Thánh đệ tử có học trở nên nhàm chán với nó. Lòng ham muốn của họ phai nhạt ngay cả đối với điều tối thắng, huống chi là điều hạ liệt.
Một tiểu thiên thế giới (galaxy / một hệ thống thế giới nhỏ, gồm 1000 thế giới) trải rộng một ngàn lần khoảng cách mặt trăng và mặt trời xoay vần và các vị chiếu sáng soi rọi các phương. Trong tiểu thiên thế giới đó có một ngàn mặt trăng, một ngàn mặt trời, một ngàn Vua núi Tu Di, một ngàn Châu Diêm Phù Đề, một ngàn Tây Ngưu Hóa Châu, một ngàn Bắc Câu Lô Châu, một ngàn Đông Thắng Thần Châu, bốn ngàn đại dương, bốn ngàn đại vương, một ngàn cõi trời của Tứ Đại Thiên Vương (gods of the four great kings / các vị trời cai quản bốn phương), một ngàn cõi trời của chư Thiên Ba Mươi Ba (gods of the thirty-three / các vị trời ở cõi trời Đao Lợi), của chư Thiên Dạ Ma (gods of Yama / các vị trời ở cõi trời Dạ Ma), của chư Thiên Đâu Suất (joyful gods / các vị trời ở cõi trời Đâu Suất), của chư Thiên Hóa Lạc (gods who love to imagine / các vị trời vui thích sự hóa hiện), của chư Thiên Tha Hóa Tự Tại (gods who control what is imagined by others / các vị trời tự tại trong sự hóa hiện của người khác), và một ngàn cõi Phạm thiên. Trong phạm vi tiểu thiên thế giới, Đại Phạm Thiên được cho là tối thắng. Nhưng ngay cả Đại Phạm Thiên cũng suy tàn và hoại diệt.
Thấy điều này, một vị Thánh đệ tử có học trở nên nhàm chán với nó. Lòng ham muốn của họ phai nhạt ngay cả đối với điều tối thắng, huống chi là điều hạ liệt.
Có một thời khi vũ trụ này co lại. Khi nó co lại, hầu hết chúng sanh di cư đến cõi Quang Âm Thiên (realm of streaming radiance / cõi trời ánh sáng rực rỡ). Ở đó, họ do ý tạo thành, nuôi sống bằng niềm vui, tự chiếu sáng, đi lại giữa hư không, thường hằng trong vinh quang, và họ duy trì như vậy trong một thời gian rất dài. Khi vũ trụ co lại, các vị trời Quang Âm được cho là tối thắng. Nhưng ngay cả các vị trời Quang Âm cũng suy tàn và hoại diệt.
Thấy điều này, một vị Thánh đệ tử có học trở nên nhàm chán với nó. Lòng ham muốn của họ phai nhạt ngay cả đối với điều tối thắng, huống chi là điều hạ liệt.
Có mười đề mục thiền biến xứ này. Mười đề mục đó là gì? Một người nhận thức đề mục đất biến xứ ở trên, dưới, ngang, không phân chia và vô biên. Họ nhận thức đề mục nước biến xứ ... đề mục lửa biến xứ ... đề mục gió biến xứ ... đề mục xanh biến xứ ... đề mục vàng biến xứ ... đề mục đỏ biến xứ ... đề mục trắng biến xứ ... đề mục không gian biến xứ ... Họ nhận thức đề mục thức biến xứ ở trên, dưới, ngang, không phân chia và vô biên. Đây là mười đề mục thiền biến xứ.
Điều tốt nhất trong mười đề mục thiền biến xứ này là khi một người nhận thức đề mục thức biến xứ ở trên, dưới, ngang, không phân chia và vô biên. Một số chúng sanh nhận thức như vậy. Nhưng ngay cả những chúng sanh nhận thức như vậy cũng suy tàn và hoại diệt.
Thấy điều này, một vị Thánh đệ tử có học trở nên nhàm chán với nó. Lòng ham muốn của họ phai nhạt ngay cả đối với điều tối thắng, huống chi là điều hạ liệt.
Có tám thắng xứ (eight dimensions of mastery / tám trạng thái làm chủ nhận thức) này. Tám thắng xứ đó là gì? Nhận thức sắc bên trong, một người thấy các sắc bên ngoài, có giới hạn, cả đẹp lẫn xấu. Làm chủ chúng, họ nhận thức: 'Tôi biết và thấy.' Đây là thắng xứ thứ nhất.
Nhận thức sắc bên trong, một người thấy các sắc bên ngoài, vô biên, cả đẹp lẫn xấu. Làm chủ chúng, họ nhận thức: 'Tôi biết và thấy.' Đây là thắng xứ thứ hai.
Không nhận thức sắc bên trong, một người thấy các sắc bên ngoài, có giới hạn, cả đẹp lẫn xấu. Làm chủ chúng, họ nhận thức: 'Tôi biết và thấy.' Đây là thắng xứ thứ ba.
Không nhận thức sắc bên trong, một người thấy các sắc bên ngoài, vô biên, cả đẹp lẫn xấu. Làm chủ chúng, họ nhận thức: 'Tôi biết và thấy.' Đây là thắng xứ thứ tư.
Không nhận thức sắc bên trong, một người thấy các sắc bên ngoài, màu xanh, với màu sắc xanh và vẻ ngoài xanh. Chúng giống như một bông hoa lanh màu xanh, với màu sắc xanh và vẻ ngoài xanh. Hoặc một tấm vải từ Ba La Nại được chuội cả hai mặt, màu xanh, với màu sắc xanh và vẻ ngoài xanh. Cũng vậy, không nhận thức sắc bên trong, một người thấy các sắc bên ngoài, màu xanh, với màu sắc xanh và vẻ ngoài xanh. Làm chủ chúng, họ nhận thức: 'Tôi biết và thấy.' Đây là thắng xứ thứ năm.
Không nhận thức sắc bên trong, một người thấy các sắc bên ngoài, màu vàng, với màu sắc vàng và vẻ ngoài vàng. Chúng giống như một bông hoa chiêm bặc màu vàng, với màu sắc vàng và vẻ ngoài vàng. Hoặc một tấm vải từ Ba La Nại được chuội cả hai mặt, màu vàng, với màu sắc vàng và vẻ ngoài vàng. Cũng vậy, không nhận thức sắc bên trong, một người thấy các sắc bên ngoài, màu vàng, với màu sắc vàng và vẻ ngoài vàng. Làm chủ chúng, họ nhận thức: 'Tôi biết và thấy.' Đây là thắng xứ thứ sáu.
Không nhận thức sắc bên trong, một người thấy các sắc bên ngoài, màu đỏ, với màu sắc đỏ và vẻ ngoài đỏ. Chúng giống như một bông hoa mạn đà la đỏ thắm màu đỏ, với màu sắc đỏ và vẻ ngoài đỏ. Hoặc một tấm vải từ Ba La Nại được chuội cả hai mặt, màu đỏ, với màu sắc đỏ và vẻ ngoài đỏ. Cũng vậy, không nhận thức sắc bên trong, một người thấy các sắc bên ngoài, màu đỏ, với màu sắc đỏ và vẻ ngoài đỏ. Làm chủ chúng, họ nhận thức: 'Tôi biết và thấy.' Đây là thắng xứ thứ bảy.
Không nhận thức sắc bên trong, một người thấy các sắc bên ngoài, màu trắng, với màu sắc trắng và vẻ ngoài trắng. Chúng giống như sao mai màu trắng, với màu sắc trắng và vẻ ngoài trắng. Hoặc một tấm vải từ Ba La Nại được chuội cả hai mặt, màu trắng, với màu sắc trắng và vẻ ngoài trắng. Cũng vậy, không nhận thức sắc bên trong, một người thấy các sắc bên ngoài, màu trắng, với màu sắc trắng và vẻ ngoài trắng. Làm chủ chúng, họ nhận thức: 'Tôi biết và thấy.' Đây là thắng xứ thứ tám. Đây là tám thắng xứ.
Điều tốt nhất trong các thắng xứ này là khi một người, không nhận thức sắc bên trong, thấy các sắc bên ngoài, màu trắng, với màu sắc trắng và vẻ ngoài trắng. Làm chủ chúng, họ nhận thức: 'Tôi biết và thấy.' Một số chúng sanh nhận thức như vậy. Nhưng ngay cả những chúng sanh nhận thức như vậy cũng suy tàn và hoại diệt.
Thấy điều này, một vị Thánh đệ tử có học trở nên nhàm chán với nó. Lòng ham muốn của họ phai nhạt ngay cả đối với điều tối thắng, huống chi là điều hạ liệt.
Có bốn cách tu tập này. Bốn cách đó là gì?
1. Khổ hạnh với tuệ giác chậm,
2. khổ hạnh với tuệ giác nhanh,
3. lạc hạnh với tuệ giác chậm, và
4. lạc hạnh với tuệ giác nhanh.
Đây là bốn cách tu tập.
Điều tốt nhất trong bốn cách tu tập này là lạc hạnh với tuệ giác nhanh. Một số chúng sanh tu tập như vậy. Nhưng ngay cả những chúng sanh tu tập như vậy cũng suy tàn và hoại diệt.
Thấy điều này, một vị Thánh đệ tử có học trở nên nhàm chán với nó. Lòng ham muốn của họ phai nhạt ngay cả đối với điều tối thắng, huống chi là điều hạ liệt.
Có bốn tưởng (perceptions / sự nhận biết-phân biệt và ghi nhớ) này. Bốn tưởng đó là gì?
1. Một người nhận thức cái có giới hạn.
2. Một người nhận thức cái rộng lớn.
3. Một người nhận thức cái vô biên.
4. Một người, ý thức rằng 'không có gì cả', nhận thức cõi Vô sở hữu xứ (dimension of nothingness / cõi không có gì).
Đây là bốn tưởng.
Điều tốt nhất trong bốn tưởng này là khi một người, ý thức rằng 'không có gì cả', nhận thức cõi Vô sở hữu xứ. Một số chúng sanh nhận thức như vậy. Nhưng ngay cả những chúng sanh nhận thức như vậy cũng suy tàn và hoại diệt.
Thấy điều này, một vị Thánh đệ tử có học trở nên nhàm chán với nó. Lòng ham muốn của họ phai nhạt ngay cả đối với điều tối thắng, huống chi là điều hạ liệt.
Đây là điều tốt nhất trong các xác tín của ngoại đạo, đó là: 'Ta có thể không hiện hữu, và nó có thể không phải của ta. Ta sẽ không hiện hữu, và nó sẽ không phải của ta.' Khi một người có quan điểm như vậy, các ngươi có thể mong đợi rằng họ sẽ không bị thu hút bởi sự tiếp tục tồn tại, và họ sẽ không bị đẩy lui bởi sự chấm dứt của sự tiếp tục tồn tại. Một số chúng sanh có quan điểm như vậy. Nhưng ngay cả những chúng sanh có quan điểm như vậy cũng suy tàn và hoại diệt.
Thấy điều này, một vị Thánh đệ tử có học trở nên nhàm chán với nó. Lòng ham muốn của họ phai nhạt ngay cả đối với điều tối thắng, huống chi là điều hạ liệt.
Có một số Sa môn và Bà la môn chủ trương sự thanh tịnh tối hậu của tinh thần. Đây là điều tốt nhất của những người chủ trương sự thanh tịnh tối hậu của tinh thần, đó là, khi một người, hoàn toàn vượt qua cõi Vô sở hữu xứ, nhập và trú trong cõi Phi tưởng phi phi tưởng xứ (dimension of neither perception nor non-perception / cõi không có tưởng cũng không phải không có tưởng). Họ thuyết Pháp để trực tiếp biết và nhận ra điều này. Một số chúng sanh có giáo lý như vậy. Nhưng ngay cả những chúng sanh có giáo lý như vậy cũng suy tàn và hoại diệt.
Thấy điều này, một vị Thánh đệ tử có học trở nên nhàm chán với nó. Lòng ham muốn của họ phai nhạt ngay cả đối với điều tối thắng, huống chi là điều hạ liệt.
Có một số Sa môn và Bà la môn chủ trương sự Niết bàn (extinguishment / sự dập tắt, sự giải thoát cuối cùng) tối hậu ngay trong đời này. Đây là điều tốt nhất của những người chủ trương sự Niết bàn ngay trong đời này, đó là, giải thoát nhờ không chấp thủ sau khi như thật hiểu rõ sự sanh khởi, sự đoạn diệt, vị ngọt, sự nguy hại, và sự thoát ly của sáu xúc xứ (fields of contact / sáu nơi phát sinh sự tiếp xúc: mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý và các đối tượng tương ứng). Mặc dù Ta tuyên bố và khẳng định điều này, một số Sa môn và Bà la môn xuyên tạc Ta bằng lời tuyên bố không chính xác, rỗng tuếch, sai lầm, không đúng sự thật: 'Sa môn Cồ Đàm không chủ trương sự hiểu biết hoàn toàn về dục lạc (sensual pleasures / niềm vui thích giác quan), các sắc, hay các cảm thọ.' Nhưng Ta chủ trương sự hiểu biết hoàn toàn về dục lạc, các sắc, và các cảm thọ. Và Ta chủ trương sự Niết bàn hoàn toàn nhờ không chấp thủ ngay trong đời này, vô nguyện (wishless / không còn mong cầu), được dập tắt và mát mẻ."
AN 10.30 Kosala (Thứ Hai) Dutiyakosalasutta
Một thời, Đức Phật trú gần Sāvatthī, tại Kỳ Viên, tu viện của ông Anāthapiṇḍika.
Lúc bấy giờ, Vua Ba Tư Nặc xứ Kosala trở về từ trận chiến sau khi thắng trận và đạt được mục tiêu. Sau đó, Vua Ba Tư Nặc xứ Kosala đến tu viện. Ngài đi xe ngựa đến nơi địa hình cho phép, rồi xuống xe và đi bộ vào tu viện.
Lúc đó, một số Tỳ kheo đang kinh hành (walking mindfully / đi thiền, đi một cách có chánh niệm) ngoài trời. Khi ấy, Vua Ba Tư Nặc xứ Kosala đến gặp các vị ấy và nói: "Thưa các ngài, hiện nay Thế Tôn (Blessed One / bậc được tôn kính trên đời), bậc A la hán, bậc Chánh Đẳng Giác đang ở đâu? Vì tôi muốn gặp Đức Phật."
"Thưa Đại vương, đó là chỗ ở của Ngài, với cửa đóng kín. Xin hãy đến gần một cách nhẹ nhàng, không vội vã; đi lên hiên, hắng giọng, và gõ vào cánh cửa. Đức Phật sẽ mở cửa."
Vì vậy, nhà vua đến gần chỗ ở của Đức Phật, hắng giọng và gõ vào cánh cửa, và Đức Phật mở cửa. Sau đó, Vua Ba Tư Nặc vào chỗ ở của Đức Phật. Ngài cúi đầu đảnh lễ dưới chân Đức Phật, vuốt ve và hôn lên chân Ngài, và xưng tên mình: "Thưa Ngài, con là Ba Tư Nặc, vua xứ Kosala! Con là Ba Tư Nặc, vua xứ Kosala!"
"Nhưng thưa Đại vương, vì lý do gì mà ngài lại thể hiện sự tận tâm hết mực đối với thân này, biểu lộ tình cảm rõ ràng của ngài như vậy?"
"Thưa Ngài, chính vì lòng biết ơn và cảm tạ đối với Đức Phật mà con thể hiện sự tận tâm hết mực như vậy, biểu lộ tình cảm rõ ràng của con.
Đức Phật đang tu tập vì lợi ích và hạnh phúc của dân chúng. Ngài đã thiết lập nhiều người trong hệ thống cao quý, tức là các nguyên tắc của sự tốt lành và thiện xảo. Đây là một lý do mà con thể hiện sự tận tâm hết mực đối với Đức Phật, biểu lộ tình cảm rõ ràng của con.
Hơn nữa, Đức Phật có giới hạnh, sở hữu giới đức chín chắn, cao quý và thiện xảo. Đây là một lý do khác mà con thể hiện sự tận tâm hết mực đối với Đức Phật, biểu lộ tình cảm rõ ràng của con.
Hơn nữa, Đức Phật sống ở nơi hoang dã, thường lui tới những chỗ ở xa xôi trong vùng hoang dã và rừng rậm. Đây là một lý do khác mà con thể hiện sự tận tâm hết mực đối với Đức Phật, biểu lộ tình cảm rõ ràng của con.
Hơn nữa, Đức Phật biết đủ với bất kỳ loại y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, và thuốc men cùng vật dụng cho người bệnh nào. Đây là một lý do khác mà con thể hiện sự tận tâm hết mực đối với Đức Phật, biểu lộ tình cảm rõ ràng của con.
Hơn nữa, Đức Phật xứng đáng nhận vật cúng dường dành cho chư Thiên, xứng đáng được tiếp đãi, xứng đáng nhận vật bố thí tôn giáo, xứng đáng được chào đón bằng cách chắp tay, và là ruộng phước (field of merit / nơi gieo trồng công đức để gặt hái quả tốt) vô thượng cho đời. Đây là một lý do khác mà con thể hiện sự tận tâm hết mực đối với Đức Phật, biểu lộ tình cảm rõ ràng của con.
Hơn nữa, Đức Phật được tham gia vào cuộc nói chuyện về sự khiêm hạ (self-effacement / sự tự hạ mình, không khoe khoang, sự tu tập trừ bỏ phiền não) giúp mở lòng, khi Ngài muốn, không gặp khó khăn hay trở ngại. Đó là, cuộc nói chuyện về ít ham muốn, biết đủ, độc cư, xa lánh, khơi dậy năng lượng, giới đức, định, trí tuệ, giải thoát, và tri kiến giải thoát. Đây là một lý do khác mà con thể hiện sự tận tâm hết mực đối với Đức Phật, biểu lộ tình cảm rõ ràng của con.
Hơn nữa, Đức Phật chứng đắc bốn tầng thiền—những trạng thái thiền định hỷ lạc trong đời này thuộc về tâm cao hơn—khi Ngài muốn, không gặp khó khăn hay trở ngại. Đây là một lý do khác mà con thể hiện sự tận tâm hết mực đối với Đức Phật, biểu lộ tình cảm rõ ràng của con.
Hơn nữa, Đức Phật nhớ lại nhiều loại tiền kiếp. Đó là: một, hai, ba, bốn, năm, mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi, một trăm, một ngàn, một trăm ngàn lần tái sanh; nhiều kiếp thế giới co lại, nhiều kiếp thế giới giãn ra, nhiều kiếp thế giới co lại và giãn ra. Ngài nhớ: 'Ở đó, ta tên là thế này, dòng họ của ta là thế kia, ta trông như thế này, và đó là thức ăn của ta. Đây là cách ta cảm nhận lạc và khổ, và đó là cách cuộc đời ta kết thúc. Khi ta qua đời từ nơi đó, ta tái sanh ở một nơi khác. Ở đó, ta cũng tên là thế này, dòng họ của ta là thế kia, ta trông như thế này, và đó là thức ăn của ta. Đây là cách ta cảm nhận lạc và khổ, và đó là cách cuộc đời ta kết thúc. Khi ta qua đời từ nơi đó, ta tái sanh ở đây.' Và như vậy Ngài nhớ lại nhiều tiền kiếp của mình, với các đặc điểm và chi tiết. Đây là một lý do khác mà con thể hiện sự tận tâm hết mực đối với Đức Phật, biểu lộ tình cảm rõ ràng của con.
Hơn nữa, với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân, Đức Phật thấy các chúng sanh chết đi và tái sanh—hạ liệt và cao thượng, đẹp đẽ và xấu xí, ở nơi tốt đẹp hay nơi khốn khổ. Ngài hiểu rõ các chúng sanh tái sanh như thế nào tùy theo nghiệp của họ. 'Những chúng sanh thân yêu này đã làm những điều xấu ác qua thân, khẩu, và ý. Họ phỉ báng các bậc Thánh; họ có tà kiến; và họ đã chọn hành động theo tà kiến đó. Khi thân họ tan rã, sau khi chết, họ tái sanh ở nơi mất mát, nơi khốn khổ, địa ngục. Tuy nhiên, những chúng sanh thân yêu này đã làm những điều tốt lành qua thân, khẩu, và ý. Họ không bao giờ phỉ báng các bậc Thánh; họ có chánh kiến; và họ đã chọn hành động theo chánh kiến đó. Khi thân họ tan rã, sau khi chết, họ tái sanh ở nơi tốt đẹp, cõi trời.' Ngài hiểu rõ các chúng sanh tái sanh như thế nào tùy theo nghiệp của họ. Đây là một lý do khác mà con thể hiện sự tận tâm hết mực đối với Đức Phật, biểu lộ tình cảm rõ ràng của con.
Hơn nữa, Đức Phật đã chứng ngộ vô lậu tâm giải thoát và tuệ giải thoát ngay trong đời này, và sống sau khi đã chứng ngộ điều đó bằng thắng trí của chính mình do sự đoạn tận các lậu hoặc. Đây là một lý do khác mà con thể hiện sự tận tâm hết mực đối với Đức Phật, biểu lộ tình cảm rõ ràng của con.
Thôi, bây giờ, thưa Ngài, trẫm phải đi. Trẫm có nhiều phận sự, và nhiều việc phải làm."
"Xin Đại vương cứ tự nhiên đi." Sau đó, Vua Ba Tư Nặc đứng dậy khỏi chỗ ngồi, đảnh lễ, và kính cẩn đi nhiễu quanh Đức Phật, giữ Ngài ở bên phải mình, trước khi rời đi.