Skip to content

SANKHĀRA (Hoạt)

Mặc dù từ này được sử dụng trong các bài kinh có những ngữ cảnh cụ thể khác nhau, nhưng không giống như dhamma (pháp), nó vẫn giữ đủ sự thống nhất về ý nghĩa để cho phép, với những ngoại lệ hiếm hoi, một cách diễn giải thống nhất. Tuy nhiên, vấn đề là quyết định xem cách diễn giải nào trong số nhiều cách được đề xuất là đầy đủ nhất, hoặc nếu không tìm thấy cách nào phù hợp, thì tạo ra một cách diễn giải mới.

Ý tưởng gốc được gợi ra bởi từ sankhāra là "cùng nhau tạo ra". Các nhà chú giải (commentators) Pali giải thích rằng từ này cho phép hiểu theo nghĩa chủ động và bị động. Do đó, các hoạt (formations/ sankhāra) hoặc là những nhân tố (hay lực) cùng hoạt động để tạo ra một kết quả, hoặc chúng là những thứ được tạo ra bởi sự kết hợp của các nhân tố hợp tác. Trong bản dịch cuốn Thanh Tịnh Đạo (Visuddhimagga), Ngài Nānamoli đã dịch sankhāra là "formations" (các hình thái/ các hành), một cách dịch được nhiều dịch giả khác ưa chuộng. Trong kế hoạch dịch thuật sau này, ngài đã thử nghiệm dịch nó là "determinations" (sự quyết định) và cố gắng đưa lựa chọn mới đó vào bản thảo bộ Kinh Trung Bộ (Majjhima). Khi biên tập bản thảo, Ngài Khantipālo đã chọn quay lại với từ "formations" quen thuộc và sớm hơn của dịch giả, và trong ấn bản này tôi cũng làm theo như vậy. Mặc dù từ này có nhược điểm là nhấn mạnh khía cạnh bị động của các hành, nhưng nó tránh được những vấn đề mà từ "determinations" gặp phải và dường như đủ trung tính để tiếp nhận ý nghĩa được xác định bởi ngữ cảnh.

Từ sankhāra xuất hiện trong bốn ngữ cảnh chính trong các bài kinh Pali:

(1) Là yếu tố thứ hai trong công thức duyên khởi (dependent origination), nó được sử dụng để chỉ các hành động có chủ ý, gợi ý vai trò chủ động của chúng trong việc tạo ra kết quả trong quá trình tái sinh.

(2) Là yếu tố thứ tư trong năm hơp thành (five aggregates), các sankhāras bao gồm tất cả các yếu tố tinh thần không có trong ba hợp thành tinh thần còn lại (thọ, nhận biết, thức); nhóm này có lẽ được đặt tên là sankhārakkhandha (hoạt hợp thành) theo thành viên chính của nó, ý chí (cetanā), chịu trách nhiệm hình thành tất cả các uẩn khác.

(3) Sankhāra cũng được sử dụng theo một nghĩa rất toàn diện để biểu thị mọi thứ được tạo ra bởi các duyên. Theo nghĩa này, nó bao gồm cả năm uẩn (như tại MN 35.4 và MN 115.12). Ở đây, từ này mang nghĩa thụ động, được các nhà chú giải giải thích là sankhatasankhārā nghĩa là "các hoạt gồm những gì tạo bởi duyên(pháp hữu vi)". Cách sử dụng này gần giống với ý nghĩa của dhamma (pháp) trong cách sử dụng mang tính bản thể luận, ngoại trừ việc dhamma (pháp) có phạm vi rộng hơn vì nó bao gồm yếu tố vô điều kiện Nibbāna (Niết bàn) và các khái niệm (paññatti), cả hai đều bị loại trừ khỏi sankhāra.

(4) Trong một ngữ cảnh khác, từ sankhāra - hoạt được dùng liên quan đến thân, khẩu, ý (kāya, vacī, và citta) để chỉ thân hoạt (bodily formation/ kāyasankhāra), tức là hơi thở vô-ra; khẩu hoạt (verbal formation/ vacīsankhāra), tức là đặt ý và duy trì ý (applied thought and sustained thought/ vitakka-vicāra/tầm và tứ); và tâm hoạt (mental formation/ cittasankhāra), tức là nhận biết(tưởng) và thọ (perception and feeling/ saññā-vedanā). Loại thứ nhất và thứ ba là những thứ phụ thuộc tương ứng vào thân và tâm, loại thứ hai là những thứ kích hoạt lời nói. Bộ ba này được thảo luận tại MN 44.13-15.

Sankhāra cũng được sử dụng bên ngoài các ngữ cảnh chính này, và trong một trường hợp như vậy, ý nghĩa "sự xác định (determination)" của ngài Nānamoli đã được giữ lại. Đó là nơi nó xuất hiện trong hợp chất padhānasankhāra, đã được dịch là "nỗ lực xác định (determined striving)" (như tại MN 16.26). Thành ngữ hiếm gặp và phức tạp, sankhāram padahati, cũng đã được dịch là "anh ta nỗ lực với sự quyết tâm (he strives with determination)" (MN 101.23). Trong một trường hợp khác (MN 120), theo chú giải, sankhāra (hành) được dịch là "khát vọng (aspiration)."

Ghi chú: Tại sao ND lại chọn từ Hoạt thay cho Hành để dịch từ Sankhāra?

  1. Phân tích từ nguyên (Etymology)

Theo từ điển Pali (Pali Text Society - PTS): Saṅkhāra = Tiền tố Saṃ (cùng nhau, đồng thời) + Động từ căn Kar (làm, tạo tác). Nghĩa đen: Cái được làm ra do sự kết hợp các điều kiện; hoặc hành động kết hợp các điều kiện lại để tạo ra cái gì đó.

  1. Trong tiếng Anh, các dịch giả thường dùng:
  • Volitional formations (Bhikkhu Bodhi) - nhấn mạnh khía cạnh ý chí, tạo nghiệp.
  • Fabrications (Thanissaro Bhikkhu) - nhấn mạnh khía cạnh "dệt nên", "cấu tạo nên" (bao gồm cả hành động dệt và tấm vải được dệt).
  • Constructs / Conditioned things - nhấn mạnh khía cạnh bị động, là sản phẩm của điều kiện.
  1. Saṅkhāra có đặc điểm vừa chủ động vừa bị động:
  • Chủ động: Khi ta nói có một người phía sau điều khiển như ý hành
  • Bị động: Tự động, không cần tác giả ví dụ thân hành là hơi thở, không cần một người điều khiển

Từ ngữ:

  • duyên khởi /paṭicca samuppāda / dependent origination / Sự phát sinh phụ thuộc lẫn nhau của các pháp.
  • năm uẩn / pañcakkhandha / five aggregates / Năm nhóm yếu tố tạo nên kinh nghiệm của một cá nhân: sắc (vật chất), thọ (cảm giác), tưởng (tri giác), hành (sự hình thành tinh thần), và thức (ý thức).
  • Niết bàn / Nibbāna / Nibbāna / Trạng thái giác ngộ, giải thoát khỏi khổ đau và tái sinh.
  • tầm / vitakka / applied thought / Hướng tâm đến đối tượng.
  • tứ / vicāra / sustained thought / Duy trì sự chú ý vào đối tượng.
  • tri giác / saññā / perception / Quá trình nhận biết và phân biệt các đối tượng thông qua các giác quan.
  • cảm giác / vedanā / feeling / Trải nghiệm dễ chịu, khó chịu hoặc trung tính.
  • hoạt / sankhāra / formations / Các yếu tố tinh thần có điều kiện, tạo tác ý chí và định hình kinh nghiệm.