Skip to content

6. Tương Ưng với Phạm Thiên

Chương Một

SN 6.1 Lời Thỉnh Cầu của Phạm Thiên Brahmāyācanasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời, khi ngài mới giác ngộ, Đức Phật đang ở tại Uruvelā, dưới gốc cây bàng của người chăn dê, bên bờ sông Nerañjarā.

Khi ấy, trong lúc độc cư thiền định, tâm trí ngài khởi lên ý nghĩ này: "Pháp này ta đã chứng ngộ, thật sâu xa, khó thấy, khó hiểu, an tịnh, vi diệu, vượt ngoài tầm lý luận, tinh tế, chỉ bậc trí mới thấu hiểu. Nhưng chúng sanh lại ưa thích sự bám víu, họ yêu và tận hưởng nó. Thật khó cho họ để thấy được nguyên lý này; tức là, Y duyên tính, duyên khởi (specific conditionality, dependent origination / nguyên lý vạn vật nương vào nhau mà sinh khởi). Cũng thật khó cho họ để thấy được nguyên lý này; tức là, sự an tịnh của mọi hành, sự từ bỏ mọi sở hữu, sự đoạn tận ái dục, ly tham (fading away / sự phai nhạt của ham muốn), đoạn diệt (cessation / sự chấm dứt), Niết-bàn (extinguishment / sự dập tắt hoàn toàn mọi phiền não và khổ đau). Và nếu ta giảng dạy pháp này, những người khác có thể không hiểu ta, điều đó sẽ chỉ mang lại mệt mỏi và phiền toái cho ta."

Và rồi những vần kệ này, vốn không phải do thần linh mách bảo, cũng không phải đã từng học trước đây, đã hiện lên trong tâm trí Đức Phật:

"Ta đã gian nan mới chứng ngộ,
thôi đừng cố giảng giải làm gì!
Những kẻ chìm trong tham và sân
không thể nào hiểu được giáo pháp này.

Nó đi ngược dòng, vi tế,
sâu xa, mờ ảo, và rất tinh anh.
Kẻ mê đắm trong tham lam không thể thấy,
vì bị bao phủ bởi khối u minh."

Và khi Đức Phật suy tư như vậy, tâm ngài hướng đến sự im lặng, không muốn thuyết giảng Chánh pháp.

Khi ấy, Phạm thiên Sahampati, biết được dòng suy nghĩ của Đức Phật, liền nghĩ: "Than ôi! Thế giới này sẽ bị hủy diệt, thế giới này sẽ bị hoại vong! Vì tâm của bậc Như Lai (Realized One / người đã đến và đi như vậy, một danh hiệu của Phật), bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác, lại hướng đến sự im lặng, không muốn thuyết giảng Chánh pháp."

Rồi, nhanh như một người mạnh duỗi hay co cánh tay, vị ấy biến mất khỏi cõi trời Phạm thiên và hiện ra trước mặt Đức Phật. Vị ấy vắt y qua một bên vai, quỳ gối phải xuống đất, chắp tay hướng về Đức Phật và nói:

"Bạch Thế Tôn, xin ngài hãy thuyết giảng Chánh pháp! Bạch Thiện Thệ, xin ngài hãy thuyết giảng Chánh pháp! Có những chúng sanh mắt chỉ vướng ít bụi trần. Họ đang suy tàn vì không được nghe giáo pháp. Sẽ có những người thấu hiểu được giáo pháp!"

Đó là những gì Phạm thiên Sahampati đã nói. Rồi vị ấy nói tiếp:

"Tại xứ Magadha xưa kia đã xuất hiện
một giáo pháp bất tịnh do những kẻ ô uế nghĩ ra.
Xin hãy mở rộng cánh cửa bất tử!
Hãy để họ được nghe giáo pháp
— giáo pháp vô nhiễm mà ngài đã chứng ngộ.

Như đứng trên đỉnh núi đá cao,
có thể nhìn thấy mọi người xung quanh.
Cũng vậy, hỡi bậc Toàn Giác, bậc trí tuệ,
đã lên đến Đền Chân Lý,
thoát khỏi sầu muộn, xin hãy nhìn xuống chúng sanh
đang chìm trong sầu muộn,
— bị áp bức bởi sinh và lão.

Xin hãy đứng lên, hỡi bậc Anh hùng! Bậc chiến thắng, người dẫn đầu đoàn lữ hành,
hãy đi khắp thế gian, không còn nợ nần.
Xin Thế Tôn hãy thuyết giảng Chánh pháp!
Sẽ có những người thấu hiểu!"

Khi ấy, Đức Phật, hiểu được lời thỉnh cầu của vị Phạm thiên, với lòng từ bi đối với chúng sanh, ngài đã dùng Phật nhãn quan sát thế gian. Và Đức Phật thấy có những chúng sanh mắt chỉ vướng ít bụi trần, và có những chúng sanh mắt vướng nhiều bụi trần; có những người căn tánh lanh lợi và có những người căn tánh yếu kém, có những người phẩm chất tốt và có những người phẩm chất xấu, có người dễ dạy và có người khó dạy. Và có một số người sống mà thấy được sự nguy hiểm trong lỗi lầm liên quan đến thế giới bên kia, trong khi những người khác thì không.

Giống như trong một hồ sen xanh, sen hồng hay sen trắng. Một số hoa sen nảy mầm và lớn lên trong nước mà không vươn lên khỏi mặt nước, chúng phát triển dưới nước. Một số hoa sen nảy mầm và lớn lên trong nước, vươn đến mặt nước. Và một số hoa sen nảy mầm và lớn lên trong nước nhưng vươn lên khỏi mặt nước và đứng thẳng, không dính một giọt nước nào.

Cũng vậy, Đức Phật thấy có những chúng sanh mắt chỉ vướng ít bụi trần, và có những chúng sanh mắt vướng nhiều bụi trần; có những người căn tánh lanh lợi và có những người căn tánh yếu kém, có những người phẩm chất tốt và có những người phẩm chất xấu, có người dễ dạy và có người khó dạy. Và có một số người sống mà thấy được sự nguy hiểm trong lỗi lầm liên quan đến thế giới bên kia, trong khi những người khác thì không.

Khi đã thấy vậy, ngài đáp lại Phạm thiên Sahampati bằng một bài kệ:

"Cánh cửa bất tử đã rộng mở!
Ai có tai hãy lắng nghe và đặt niềm tin.
Hỡi Phạm thiên, vì nghĩ rằng sẽ phiền toái,
— nên ta đã không giảng
Chánh pháp cao siêu, vi diệu giữa nhân gian."

Khi ấy, Phạm thiên Sahampati, biết rằng lời thỉnh cầu của mình để Đức Phật thuyết giảng Chánh pháp đã được chấp thuận, liền cúi lạy và đi quanh Đức Phật theo chiều kim đồng hồ, trước khi biến mất ngay tại đó.

SN 6.2 Sự Tôn Kính Gāravasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời, khi ngài mới giác ngộ, Đức Phật đang ở tại Uruvelā, dưới gốc cây bàng của người chăn dê, bên bờ sông Nerañjarā.

Khi ấy, trong lúc độc cư thiền định, tâm trí ngài khởi lên ý nghĩ này: "Sống mà không có sự tôn kính và nể trọng thì thật không vui. Ta nên tôn kính, nể trọng và nương tựa vào vị sa-môn hay bà-la-môn nào đây?"

Rồi ngài nghĩ:

"Ta sẽ tôn kính, nể trọng và nương tựa vào một vị sa-môn hay bà-la-môn khác để hoàn thiện trọn vẹn phương diện giới hạnh, nếu nó chưa được trọn vẹn. Nhưng ta không thấy một vị sa-môn hay bà-la-môn nào khác trong thế giới này—với các vị trời, Ma vương, và Phạm thiên, trong chúng sanh này với các sa-môn và bà-la-môn, các vị trời và loài người—mà thành tựu về giới hạnh hơn ta, để ta phải tôn kính, nể trọng và nương tựa.

Ta sẽ tôn kính, nể trọng và nương tựa vào một vị sa-môn hay bà-la-môn khác để hoàn thiện trọn vẹn phương diện định (immersion / sự tập trung tâm trí), nếu nó chưa được trọn vẹn. Nhưng ta không thấy một vị sa-môn hay bà-la-môn nào khác... mà thành tựu về định hơn ta...

Ta sẽ tôn kính, nể trọng và nương tựa vào một vị sa-môn hay bà-la-môn khác để hoàn thiện trọn vẹn phương diện trí tuệ, nếu nó chưa được trọn vẹn. Nhưng ta không thấy một vị sa-môn hay bà-la-môn nào khác... mà thành tựu về trí tuệ hơn ta...

Ta sẽ tôn kính, nể trọng và nương tựa vào một vị sa-môn hay bà-la-môn khác để hoàn thiện trọn vẹn phương diện giải thoát (freedom / sự tự do khỏi mọi ràng buộc), nếu nó chưa được trọn vẹn. Nhưng ta không thấy một vị sa-môn hay bà-la-môn nào khác... mà thành tựu về giải thoát hơn ta...

Ta sẽ tôn kính, nể trọng và nương tựa vào một vị sa-môn hay bà-la-môn khác để hoàn thiện trọn vẹn phương diện giải thoát tri kiến (knowledge and vision of freedom / cái thấy và biết về sự giải thoát), nếu nó chưa được trọn vẹn. Nhưng ta không thấy một vị sa-môn hay bà-la-môn nào khác trong thế giới này—với các vị trời, Ma vương, và Phạm thiên, trong chúng sanh này với các sa-môn và bà-la-môn, các vị trời và loài người—mà thành tựu về giải thoát tri kiến hơn ta, để ta phải tôn kính, nể trọng và nương tựa. Vậy tại sao ta không tôn kính, nể trọng và nương tựa vào chính Chánh pháp mà ta đã giác ngộ?"

Khi ấy, Phạm thiên Sahampati biết được suy nghĩ của Đức Phật. Nhanh như một người mạnh duỗi hay co cánh tay, vị ấy biến mất khỏi cõi trời Phạm thiên và hiện ra trước mặt Đức Phật. Vị ấy vắt y qua một bên vai, chắp tay hướng về Đức Phật và nói:

"Thật đúng như vậy, bạch Thế Tôn! Thật đúng như vậy, bạch Thiện Thệ! Tất cả các bậc A-la-hán, các bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đã sống trong quá khứ đều tôn kính, nể trọng và nương tựa vào chính giáo pháp này. Tất cả các bậc A-la-hán, các bậc Chánh Đẳng Chánh Giác sẽ sống trong tương lai cũng sẽ tôn kính, nể trọng và nương tựa vào chính giáo pháp này. Cầu mong Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác hiện tại, cũng sẽ tôn kính, nể trọng và nương tựa vào chính giáo pháp này."

Đó là những gì Phạm thiên Sahampati đã nói. Rồi vị ấy nói tiếp:

"Tất cả Chư Phật trong quá khứ,
Chư Phật của tương lai,
và Đức Phật hiện tại—
người tiêu diệt sầu muộn của bao chúng sanh—

đều tôn kính Chánh pháp
các ngài đã sống, đang sống,
và cũng sẽ sống như vậy.
Đây là bản chất của Chư Phật.

Vì vậy, người nào quan tâm đến hạnh phúc của chính mình,
và muốn trở thành phiên bản tốt nhất có thể,
nên tôn kính Chánh pháp,
ghi nhớ lời dạy của Chư Phật."

SN 6.3 Cùng với Brahmadeva Brahmadevasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật đang ở gần Sāvatthī, tại Tịnh xá Anāthapiṇḍika trong Rừng Jeta.

Lúc bấy giờ, có một bà-la-môn phu nhân có một người con trai tên là Brahmadeva, đã từ bỏ đời sống thế tục để xuất gia tu hành dưới sự dẫn dắt của Đức Phật.

Rồi Tôn giả Brahmadeva, sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm và quyết chí, chẳng bao lâu đã chứng ngộ được mục đích tối thượng của con đường tâm linh ngay trong đời này. Ngài đã sống, tự mình chứng đắc bằng trí tuệ của mình mục tiêu mà vì đó những người con trai của các gia đình cao quý đã từ bỏ đời sống thế tục để xuất gia.

Ngài hiểu rằng: "Sanh đã tận; đời sống phạm hạnh đã hoàn tất; những gì cần làm đã làm xong; không còn gì phải làm ở nơi này nữa." Và Tôn giả Brahmadeva đã trở thành một trong những bậc A-la-hán.

Sau đó, vào buổi sáng, Tôn giả Brahmadeva đắp y, mang bát và y, vào thành Sāvatthī để khất thực. Đi khất thực không phân biệt ở Sāvatthī, ngài đến nhà của mẹ mình.

Lúc bấy giờ, mẹ của Brahmadeva, vị bà-la-môn phu nhân, đang thực hiện một lễ cúng dường thường lệ cho Phạm thiên.

Khi ấy, Phạm thiên Sahampati nghĩ: "Mẹ của Tôn giả Brahmadeva, vị bà-la-môn phu nhân này, đang thực hiện một lễ cúng dường thường lệ cho Phạm thiên. Tại sao ta không đến và khơi dậy trong bà một cảm giác cấp bách?"

Rồi, nhanh như một người mạnh duỗi hay co cánh tay, vị ấy biến mất khỏi cõi trời Phạm thiên và hiện ra trong nhà của mẹ Brahmadeva. Khi ấy, Phạm thiên Sahampati, đứng giữa không trung, nói với mẹ của Brahmadeva bằng những vần kệ:

"Thưa bà, cõi trời Phạm thiên ở rất xa nơi đây,
nơi mà bà thường xuyên cúng dường.
Nhưng Phạm thiên không ăn loại thức ăn đó.
Tại sao lại cầu nguyện, khi bà không biết con đường đến cõi trời?

Brahmadeva này, thưa bà,
không còn vướng bận, đã vượt qua các vị trời.
Không sở hữu gì, không nuôi dưỡng ai khác,
— một Tỷ kheo
đã vào nhà bà để khất thực.

Ngài xứng đáng với những lễ vật dâng cúng cho các vị trời,
— một bậc thầy tri thức, đã tiến hóa.
Ngài xứng đáng với sự cúng dường
— từ trời và người.
Đã xua tan mọi điều ác, ngài không còn ô uế.
Với tâm thanh lương, ngài đi tìm thức ăn.

Ngài không có quá khứ và tương lai,
an lạc, không mây mờ, không phiền muộn,
— không cần hy vọng,
ngài đã đặt xuống cây gậy
— đối với mọi sinh vật, dù mạnh hay yếu.
Vậy hãy để ngài thưởng thức lễ vật hảo hạng của bà.

Với tâm an tịnh, ngài đã rời xa đám đông,
ngài đi lại như một con voi đã được thuần hóa, không bị xáo động.
Ngài là một Tỷ kheo có giới đức tốt đẹp, với tâm giải thoát hoàn toàn.
Vậy hãy để ngài thưởng thức lễ vật hảo hạng của bà.

Với niềm tin không lay chuyển vào ngài,
hãy dâng cúng lễ vật của bà
— cho người xứng đáng.
Giờ đây khi bà đã thấy bậc thánh nhân đã vượt qua bờ kia,
— thưa bà,
hãy tạo phước đức vì hạnh phúc tương lai!"

Với niềm tin không lay chuyển vào ngài,
bà đã dâng cúng lễ vật của mình
— cho người xứng đáng.
Sau khi thấy bậc thánh nhân đã vượt qua bờ kia,
— vị bà-la-môn phu nhân
đã tạo phước đức vì hạnh phúc tương lai.

SN 6.4 Cùng với Phạm Thiên Baka Bakabrahmasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật đang ở gần Sāvatthī, tại Tịnh xá Anāthapiṇḍika trong Rừng Jeta.

Lúc bấy giờ, Phạm thiên Baka có một tà kiến (harmful misconception / cái thấy sai lầm, lệch lạc) như sau: "Cái này là thường hằng, cái này là vĩnh cửu, cái này là bất diệt, cái này là toàn vẹn, cái này không thể hoại diệt. Vì đây là nơi không có sinh, già, chết, qua đời, hay tái sinh. Và không có lối thoát nào khác ngoài nơi này."

Khi ấy, Đức Phật biết được suy nghĩ của Phạm thiên Baka. Nhanh như một người mạnh duỗi hay co cánh tay, ngài biến mất khỏi Rừng Jeta và hiện ra tại cõi trời Phạm thiên đó.

Phạm thiên Baka thấy Đức Phật từ xa đến và nói với ngài: "Xin mời, thiện hữu! Chào mừng, thiện hữu! Đã lâu lắm rồi ngài mới có dịp đến đây. Vì nơi này là thường hằng, là vĩnh cửu, là bất diệt, là toàn vẹn, không thể hoại diệt. Vì đây là nơi không có sinh, già, chết, qua đời, hay tái sinh. Và không có lối thoát nào khác ngoài nơi này."

Khi vị ấy nói xong, Đức Phật nói với vị ấy: "Than ôi, Phạm thiên Baka đã lạc vào vô minh! Than ôi, Phạm thiên Baka đã lạc vào vô minh! Bởi vì cái thực sự là vô thường, không bền vững, tạm bợ, không toàn vẹn, và có thể hoại diệt, thì vị ấy lại nói là thường hằng, vĩnh cửu, bất diệt, toàn vẹn, và không thể hoại diệt. Và nơi có sinh, già, chết, qua đời, và tái sinh, thì vị ấy lại nói là không có sinh, già, chết, qua đời, hay tái sinh. Và mặc dù có một lối thoát khác ngoài nơi này, vị ấy lại nói rằng không có lối thoát nào khác ngoài nơi này."

"Này Gotama, chúng tôi bảy mươi hai người tạo phước
— giờ đây là những người nắm giữ quyền lực,
đã vượt qua sinh và lão.
Đây là lần tái sinh cuối cùng của chúng tôi với tư cách là Phạm thiên,
— hỡi bậc thầy tri thức.
Và bây giờ nhiều người cầu nguyện chúng tôi."

"Nhưng, này Baka, tuổi thọ ở đây ngắn ngủi, không dài,
mặc dù ông nghĩ nó dài.
Ta biết rằng tuổi thọ của ông
là hai quinquadecillion năm, hỡi Phạm thiên."

"Bạch Thế Tôn, tôi là người có tầm nhìn vô hạn,
đã vượt qua sinh, lão và sầu muộn.
Những giới luật và nghi lễ nào
— tôi đã thực hành trong quá khứ?
Xin hãy giải thích cho tôi để tôi có thể hiểu."

"Ông đã cho nhiều người uống nước
những người bị khát và nóng bức.
Đó là những giới luật và nghi lễ
— ông đã thực hành trong quá khứ.
Ta nhớ lại nó như người vừa tỉnh giấc.

Khi những người ở Bờ sông Nai bị bắt,
ông đã giải thoát những người bị bắt khi họ bị dẫn đi.
Đó là những giới luật và nghi lễ
— ông đã thực hành trong quá khứ.
Ta nhớ lại nó như người vừa tỉnh giấc.

Khi một chiếc thuyền trên sông Hằng bị bắt
bởi một con rồng hung dữ thèm thịt người,
ông đã giải thoát nó bằng sức mạnh phi thường.
Đó là những giới luật và nghi lễ
— ông đã thực hành trong quá khứ.
Ta nhớ lại nó như người vừa tỉnh giấc.

Ta từng là người hầu của ông tên là Kappa.
Ông nghĩ rằng anh ta thông minh và trung thành.
Đó là những giới luật và nghi lễ
— ông đã thực hành trong quá khứ.
Ta nhớ lại nó như người vừa tỉnh giấc."

"Ngài chắc chắn hiểu rõ tuổi thọ này của tôi.
Và những người khác, ngài cũng biết;
— đó là lý do ngài là Đức Phật.
Và đó là lý do tại sao vinh quang rực rỡ của ngài
chiếu sáng cả cõi trời Phạm thiên."

SN 6.5 Một Vị Phạm Thiên Nào Đó Aññatarabrahmasutta

Tại Sāvatthī.

Lúc bấy giờ, một vị Phạm thiên nào đó có tà kiến như sau: "Không có sa-môn hay bà-la-môn nào có thể đến đây!"

Khi ấy, Đức Phật biết được suy nghĩ của vị Phạm thiên đó. Nhanh như một người mạnh duỗi hay co cánh tay, ngài biến mất khỏi Rừng Jeta và hiện ra tại cõi trời Phạm thiên đó. Rồi Đức Phật ngồi kiết già trên không trung, phía trên vị Phạm thiên đó, nhập vào hỏa đại (fire element / yếu tố lửa).

Khi ấy, Tôn giả Mahāmoggallāna nghĩ: "Hiện tại Đức Phật đang ở đâu?" Với thiên nhãn (clairvoyance / khả năng nhìn thấy những điều vượt ngoài tầm mắt thường) thanh tịnh và siêu phàm, ngài thấy Đức Phật đang ngồi kiết già trên không trung phía trên vị Phạm thiên đó, nhập vào hỏa đại. Rồi, nhanh như một người mạnh duỗi hay co cánh tay, ngài biến mất khỏi Rừng Jeta và hiện ra tại cõi trời Phạm thiên đó. Rồi Mahāmoggallāna—định vị ở phía đông, bên dưới Đức Phật—ngồi kiết già trên không trung phía trên vị Phạm thiên đó, nhập vào hỏa đại.

Rồi Tôn giả Mahākassapa... định vị ở phía nam...

Tôn giả Mahākappina... định vị ở phía tây...

Tôn giả Anuruddha... định vị ở phía bắc, bên dưới Đức Phật, ngồi kiết già trên không trung phía trên vị Phạm thiên đó, nhập vào hỏa đại.

Khi ấy, Mahāmoggallāna nói với vị Phạm thiên đó bằng những vần kệ:

"Thưa ngài, ngài vẫn còn giữ quan điểm cũ
mà ngài đã có trong quá khứ?
Hay ngài có thấy ánh hào quang
vượt trên cõi trời Phạm thiên không?"

"Thưa thiện hữu, tôi không còn giữ quan điểm đó
mà tôi đã có trong quá khứ.
Tôi thấy ánh hào quang
vượt trên cõi trời Phạm thiên.
Vậy làm sao hôm nay tôi có thể nói
rằng tôi là thường hằng và vĩnh cửu?"

Sau khi đã khơi dậy lòng kính sợ trong vị Phạm thiên, nhanh như một người mạnh duỗi hay co cánh tay, Đức Phật biến mất khỏi cõi trời Phạm thiên và hiện ra tại Rừng Jeta.

Khi ấy, vị Phạm thiên đó nói với một thành viên trong đoàn tùy tùng của mình: "Này thiện hữu, xin hãy đến gặp Tôn giả Mahāmoggallāna và nói với ngài rằng: 'Thưa thiện hữu Moggallāna, có đệ tử nào khác của Đức Phật có thần thông và uy lực tương đương với các bậc đáng kính Moggallāna, Kassapa, Kappina, và Anuruddha không?'"

"Vâng, thưa thiện hữu," thành viên tùy tùng đó trả lời. Vị ấy đến gặp Moggallāna và hỏi như đã được chỉ dẫn.

Khi ấy, Mahāmoggallāna nói với thành viên tùy tùng của vị Phạm thiên đó bằng những vần kệ:

"Có nhiều đệ tử của Đức Phật
đã chứng đắc tam minh (three knowledges / ba loại trí tuệ cao siêu),
và đã đạt được thần thông,
— chuyên về đọc tâm ý người khác,
họ là những bậc A-la-hán đã đoạn tận lậu hoặc."

Khi ấy, thành viên tùy tùng của vị Phạm thiên đó, sau khi tán thành và đồng ý với những gì Mahāmoggallāna đã nói, đã đến gặp vị Phạm thiên đó và nói với vị ấy: "Thưa thiện hữu, Tôn giả Mahāmoggallāna đã nói thế này:

'Có nhiều đệ tử của Đức Phật
đã chứng đắc tam minh,
và đã đạt được thần thông,
— chuyên về đọc tâm ý người khác,
họ là những bậc A-la-hán đã đoạn tận lậu hoặc.'"

Đó là những gì thành viên tùy tùng của vị Phạm thiên đó đã nói. Hài lòng, vị Phạm thiên đó đã tán thành những gì thành viên tùy tùng của mình nói.

SN 6.6 Vị Phạm Thiên Sao Nhãng Brahmalokasutta

Tại Sāvatthī.

Lúc bấy giờ, Đức Phật đã nhập thất để thiền định ban ngày.

Khi ấy, các vị trời độc lập Subrahmā và Suddhāvāsa đến gặp Đức Phật và đứng ở mỗi bên cột cửa. Nhưng Subrahmā nói với Suddhāvāsa: "Thiện hữu, bây giờ không phải là lúc thích hợp để đảnh lễ Đức Phật. Ngài đã nhập thất để thiền định ban ngày. Nhưng có một cõi trời Phạm thiên nọ đang thành công và thịnh vượng, trong khi vị Phạm thiên sống ở đó lại sao nhãng. Nào, chúng ta hãy đến cõi trời Phạm thiên đó và khơi dậy lòng kính sợ trong vị Phạm thiên ấy!"

"Vâng, thiện hữu," Suddhāvāsa trả lời.

Rồi, nhanh như một người mạnh duỗi hay co cánh tay, họ biến mất khỏi trước mặt Đức Phật và hiện ra tại cõi trời Phạm thiên đó.

Vị Phạm thiên đó thấy các vị trời kia từ xa đến và nói với họ: "Này các thiện hữu, các vị từ đâu đến vậy?"

"Thiện hữu, chúng tôi đến từ sự hiện diện của Thế Tôn, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác. Ngài không nên đến hầu cận Thế Tôn đó sao?"

Khi họ nói xong, vị Phạm thiên đó từ chối chấp nhận lời khuyên của họ. Vị ấy tự nhân mình lên một ngàn lần và nói với Subrahmā: "Thiện hữu, ngài không thấy rằng tôi có thần thông như vậy sao?"

"Tôi thấy điều đó, thiện hữu."

"Vì tôi có thần thông và uy lực như vậy, tôi cần phải đến hầu cận vị sa-môn hay bà-la-môn nào khác?"

Khi ấy, Subrahmā tự nhân mình lên hai ngàn lần và nói với vị Phạm thiên đó: "Thiện hữu, ngài không thấy rằng tôi có thần thông như vậy sao?"

"Tôi thấy điều đó, thiện hữu."

"Đức Phật đó còn có thần thông và uy lực hơn cả ngài và tôi. Ngài không nên đến hầu cận Thế Tôn đó sao?"

Khi ấy, vị Phạm thiên đó nói với Subrahmā bằng những vần kệ:

"Có ba trăm con phượng hoàng,
— bốn con thiên nga, và năm con đại bàng.
Cung điện này thuộc về người đã thực hành thiền định.
Nó tỏa sáng, hỡi Phạm thiên,
chiếu sáng cả phương bắc!"

"Vậy thì sao nếu cung điện của ngài tỏa sáng,
chiếu sáng cả phương bắc?
Một người thông minh đã thấy được khiếm khuyết trong sắc tướng,
sự rung động kinh niên của nó, không còn vui thích trong đó."

Rồi sau khi khơi dậy lòng kính sợ trong vị Phạm thiên đó, các vị trời độc lập Subrahmā và Suddhāvāsa biến mất ngay tại đó. Và sau một thời gian, vị Phạm thiên đó đã đến hầu cận Đức Phật.

SN 6.7 Về Kokālika Kokālikasutta

Tại Sāvatthī.

Lúc bấy giờ, Đức Phật đã nhập thất để thiền định ban ngày. Khi ấy, các vị trời độc lập Subrahmā và Suddhāvāsa đến gặp Đức Phật và đứng ở mỗi bên cột cửa.

Khi ấy, Subrahmā đọc bài kệ này về Tỷ kheo Kokālika trước sự hiện diện của Đức Phật:

"Người trí nào ở đây lại phán xét
những bậc vô lượng bằng cách đo lường họ?
Tôi nghĩ bất cứ ai làm điều đó
hẳn là một kẻ phàm phu, bị vô minh che lấp."

SN 6.8 Về Katamorakatissaka Katamodakatissasutta

Tại Sāvatthī.

Lúc bấy giờ, Đức Phật đã nhập thất để thiền định ban ngày. Khi ấy, các vị trời độc lập Subrahmā và Suddhāvāsa đến gặp Đức Phật và đứng ở mỗi bên cột cửa.

Khi ấy, Suddhāvāsa đọc bài kệ này về Tỷ kheo Katamorakatissaka trước sự hiện diện của Đức Phật:

"Người trí nào ở đây lại phán xét
những bậc vô lượng bằng cách đo lường họ?
Tôi nghĩ bất cứ ai làm điều đó
hẳn là một kẻ ngu ngốc, bị vô minh che lấp."

SN 6.9 Cùng với Phạm Thiên Tudu Turūbrahmasutta

Tại Sāvatthī.

Lúc bấy giờ, Tỷ kheo Kokālika đang bị bệnh, đau đớn, bệnh tình nguy kịch.

Khi ấy, vào lúc đêm khuya, vị trời độc lập xinh đẹp Tudu, chiếu sáng toàn bộ Rừng Jeta, đến gặp Tỷ kheo Kokālika, và đứng trên không trung nói với ông: "Này Kokālika, hãy có niềm tin vào Sāriputta và Moggallāna, họ là những vị sư tốt."

"Thưa ngài, ngài là ai?"

"Ta là Tudu, vị trời độc lập."

"Chẳng phải Đức Phật đã tuyên bố ngài là một vị bất lai (non-returner / người không còn quay trở lại cõi dục) sao? Vậy chính xác thì ngài đang làm gì ở đây? Hãy xem ngài đã đi lạc xa đến mức nào!"

"Một người sinh ra
với một cái rìu trong miệng.
Kẻ ngu tự cắt mình bằng nó
khi họ nói những lời xấu xa.

Khi bạn ca ngợi người đáng bị chỉ trích,
hoặc chỉ trích người đáng được ca ngợi,
bạn tự chọn lấy vận rủi bằng chính miệng mình:
bạn sẽ không bao giờ tìm thấy hạnh phúc theo cách đó.

Vận rủi khi chơi xúc xắc là một điều nhỏ nhặt,
nếu tất cả những gì bạn mất là tiền bạc
và tất cả những gì bạn sở hữu, ngay cả chính bạn.
Vận rủi thực sự khủng khiếp
là căm ghét các bậc thánh.

Trong hơn hai quinquadecillion năm,
và thêm năm quattuordecillion năm nữa,
kẻ phỉ báng các bậc cao quý sẽ xuống địa ngục,
vì đã nhắm những lời nói và suy nghĩ xấu xa vào họ."

SN 6.10 Cùng với Kokālika Kokālikasutta

Tại Sāvatthī.

Khi ấy, Tỷ kheo Kokālika đến gặp Đức Phật, cúi lạy, ngồi xuống một bên và nói với ngài: "Bạch Thế Tôn, Sāriputta và Moggallāna có những ước muốn xấu xa. Họ đã bị những ước muốn xấu xa chi phối."

Khi điều này được nói ra, Đức Phật nói với Kokālika: "Đừng nói vậy, Kokālika! Đừng nói vậy, Kokālika! Hãy có niềm tin vào Sāriputta và Moggallāna, họ là những vị sư tốt."

Lần thứ hai, Kokālika nói với Đức Phật: "Mặc dù con có niềm tin và sự tin tưởng vào Đức Phật, nhưng Sāriputta và Moggallāna có những ước muốn xấu xa. Họ đã bị những ước muốn xấu xa chi phối."

Lần thứ hai, Đức Phật nói với Kokālika: "Đừng nói vậy, Kokālika! Đừng nói vậy, Kokālika! Hãy có niềm tin vào Sāriputta và Moggallāna, họ là những vị sư tốt."

Lần thứ ba, Kokālika nói với Đức Phật: "Mặc dù con có niềm tin và sự tin tưởng vào Đức Phật, nhưng Sāriputta và Moggallāna có những ước muốn xấu xa. Họ đã bị những ước muốn xấu xa chi phối."

Lần thứ ba, Đức Phật nói với Kokālika: "Đừng nói vậy, Kokālika! Đừng nói vậy, Kokālika! Hãy có niềm tin vào Sāriputta và Moggallāna, họ là những vị sư tốt."

Khi ấy, Kokālika đứng dậy khỏi chỗ ngồi, cúi lạy và đi quanh Đức Phật theo chiều kim đồng hồ, trước khi rời đi. Không lâu sau khi ông rời đi, cơ thể ông nổi lên những mụn nhọt to bằng hạt cải. Những mụn nhọt lớn dần bằng hạt đậu xanh, rồi hạt đậu gà, rồi hạt táo tàu, rồi quả táo tàu, rồi quả myrobalan, rồi quả táo gỗ chưa chín, rồi quả táo gỗ chín. Cuối cùng chúng vỡ ra, mủ và máu chảy ra. Khi ấy, Tỷ kheo Kokālika chết vì căn bệnh đó. Ông đã tái sinh vào địa ngục Sen Hồng vì lòng oán hận đối với Sāriputta và Moggallāna.

Khi ấy, vào lúc đêm khuya, Phạm thiên Sahampati xinh đẹp, chiếu sáng toàn bộ Rừng Jeta, đến gặp Đức Phật, cúi lạy, đứng sang một bên và nói với ngài: "Bạch Thế Tôn, Tỷ kheo Kokālika đã qua đời. Ông đã tái sinh vào địa ngục Sen Hồng vì lòng oán hận đối với Sāriputta và Moggallāna."

Đó là những gì Phạm thiên Sahampati đã nói. Rồi vị ấy cúi lạy và đi quanh Đức Phật theo chiều kim đồng hồ, trước khi biến mất ngay tại đó.

Khi ấy, khi đêm đã qua, Đức Phật kể lại cho các Tỷ kheo tất cả những gì đã xảy ra.

Khi ngài nói điều này, một trong các Tỷ kheo hỏi Đức Phật: "Bạch Thế Tôn, tuổi thọ trong địa ngục Sen Hồng là bao lâu?"

"Rất dài, Tỷ kheo. Không dễ để tính toán nó kéo dài bao nhiêu năm, bao nhiêu trăm hay ngàn hay trăm ngàn năm."

"Nhưng bạch Thế Tôn, có thể đưa ra một ví dụ không?"

"Có thể," Đức Phật nói.

"Giả sử có một xe bò Kosala chứa hai mươi giạ hạt vừng. Và cứ sau mỗi trăm năm, có người lấy ra một hạt từ đó. Bằng cách này, xe bò Kosala chứa hai mươi giạ hạt vừng sẽ hết nhanh hơn một kiếp sống trong địa ngục Abbuda.

Bây giờ, hai mươi kiếp sống trong địa ngục Abbuda bằng một kiếp sống trong địa ngục Nirabbuda. Hai mươi kiếp sống trong địa ngục Nirabbuda bằng một kiếp sống trong địa ngục Ababa. Hai mươi kiếp sống trong địa ngục Ababa bằng một kiếp sống trong địa ngục Aṭaṭa. Hai mươi kiếp sống trong địa ngục Aṭaṭa bằng một kiếp sống trong địa ngục Ahaha. Hai mươi kiếp sống trong địa ngục Ahaha bằng một kiếp sống trong địa ngục Sen Vàng. Hai mươi kiếp sống trong địa ngục Sen Vàng bằng một kiếp sống trong địa ngục Thơm Ngát. Hai mươi kiếp sống trong địa ngục Thơm Ngát bằng một kiếp sống trong địa ngục Sen Xanh. Hai mươi kiếp sống trong địa ngục Sen Xanh bằng một kiếp sống trong địa ngục Sen Trắng. Hai mươi kiếp sống trong địa ngục Sen Trắng bằng một kiếp sống trong địa ngục Sen Hồng.

Tỷ kheo Kokālika đã tái sinh vào địa ngục Sen Hồng vì lòng oán hận đối với Sāriputta và Moggallāna."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Rồi bậc Thiện Thệ, bậc Đạo Sư, nói tiếp:

"Một người sinh ra
với một cái rìu trong miệng.
Kẻ ngu tự cắt mình bằng nó
khi họ nói những lời xấu xa.

Khi bạn ca ngợi người đáng bị chỉ trích,
hoặc chỉ trích người đáng được ca ngợi,
bạn tự chọn lấy vận rủi bằng chính miệng mình:
bạn sẽ không bao giờ tìm thấy hạnh phúc theo cách đó.

Vận rủi khi chơi xúc xắc là một điều nhỏ nhặt,
nếu tất cả những gì bạn mất là tiền bạc
và tất cả những gì bạn sở hữu, ngay cả chính bạn.
Vận rủi thực sự khủng khiếp
là căm ghét các bậc thánh.

Trong hơn hai quinquadecillion năm,
và thêm năm quattuordecillion năm nữa,
kẻ phỉ báng các bậc cao quý sẽ xuống địa ngục,
vì đã nhắm những lời nói và suy nghĩ xấu xa vào họ."

Chương Hai

SN 6.11 Cùng với Sanaṅkumāra Sanaṅkumārasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật đang ở gần Rājagaha, bên bờ sông Sappinī.

Khi ấy, vào lúc đêm khuya, vị trời xinh đẹp Sanaṅkumāra, chiếu sáng toàn bộ bờ sông Sappinī, đến gặp Đức Phật, cúi lạy, đứng sang một bên và đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:

"Giai cấp quý tộc là tốt nhất trong những người
lấy dòng dõi làm tiêu chuẩn.
Nhưng người thành tựu về tri thức và đức hạnh
là tốt nhất trong các vị trời và loài người."

Đó là những gì vị trời Sanaṅkumāra đã nói, và bậc Đạo Sư đã tán thành. Khi ấy, vị trời Sanaṅkumāra, biết rằng bậc Đạo Sư đã tán thành, liền cúi lạy và đi quanh Đức Phật theo chiều kim đồng hồ, trước khi biến mất ngay tại đó.

SN 6.12 Về Devadatta Devadattasutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật đang ở gần Rājagaha, trên núi Linh Thứu, không lâu sau khi Devadatta đã rời đi.

Khi ấy, vào lúc đêm khuya, Phạm thiên Sahampati xinh đẹp, chiếu sáng toàn bộ núi Linh Thứu, đến gặp Đức Phật, cúi lạy, đứng sang một bên và đọc bài kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:

"Cây chuối bị hủy hoại bởi chính quả của nó,
cũng như cây tre và cây sậy.
Danh vọng hủy hoại kẻ tội lỗi,
như việc mang thai hủy hoại con la."

SN 6.13 Tại Andhakavinda Andhakavindasutta

Một thời Đức Phật đang ở tại xứ Magadha, tại Andhakavinda.

Lúc bấy giờ, Đức Phật đang thiền định ngoài trời trong đêm tối, trong khi một cơn mưa phùn nhẹ nhàng rơi xuống.

Khi ấy, vào lúc đêm khuya, Phạm thiên Sahampati xinh đẹp, chiếu sáng toàn bộ Andhakavinda, đến gặp Đức Phật, cúi lạy, đứng sang một bên và đọc những vần kệ này trước sự hiện diện của Đức Phật:

"Nên thường xuyên lui tới những nơi ở hẻo lánh,
và thực hành để được giải thoát khỏi các kiết sử (fetters / những sợi dây trói buộc tâm linh).
Nếu bạn không tìm thấy sự vui thích ở đó,
hãy sống trong Tăng đoàn, có hộ trì và chánh niệm.

Đi khất thực từ nhà này sang nhà khác,
với các giác quan được hộ trì, tỉnh táo và chánh niệm.
Nên thường xuyên lui tới những nơi ở hẻo lánh,
không còn sợ hãi, được giải thoát trong sự vô úy.

Nơi những con rắn đáng sợ trườn bò,
nơi sấm chớp lóe lên và trời gầm vang
trong đêm tối;
ở đó một Tỷ kheo thiền định, không hề rùng mình.

Vì điều này ta luôn thấy,
nó không chỉ là những gì kinh điển nói.
Trong một giáo pháp duy nhất
có một ngàn người chiến thắng Tử thần.

Và trong số những người đang tu học có hơn năm trăm,
và mười lần mười chục;
tất cả đều là những bậc nhập lưu (stream-enterers / người đã bước vào dòng thánh),
được giải thoát khỏi việc tái sinh vào cõi súc sanh.

Và đối với những người còn lại
mà tôi nghĩ đã chia sẻ công đức—
tôi thậm chí không thể đếm được họ,
vì sợ nói sai sự thật."

SN 6.14 Về Aruṇavatī Aruṇavatīsutta

Như vầy tôi nghe. Một thời Đức Phật đang ở gần Sāvatthī. Ở đó, ngài nói với các Tỷ kheo: "Này các Tỷ kheo!"

"Bạch Thế Tôn," họ trả lời. Đức Phật nói điều này:

"Ngày xửa ngày xưa, này các Tỷ kheo, có một vị vua tên là Aruṇavā. Ông có một kinh đô tên là Aruṇavatī. Đức Phật Sikhī, bậc Thiện Thệ, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Chánh Giác đã sống và được Aruṇavatī hỗ trợ. Đức Phật Sikhī có một cặp đệ tử thượng thủ xuất sắc tên là Abhibhū và Sambhava.

Khi ấy, Đức Phật Sikhī nói với Tỷ kheo Abhibhū: 'Này bà-la-môn, chúng ta hãy đến một trong các cõi trời Phạm thiên cho đến khi đến giờ ăn.'

'Vâng, thưa ngài,' Abhibhū trả lời. Rồi, nhanh như một người mạnh duỗi hay co cánh tay, họ biến mất khỏi Aruṇavatī và hiện ra tại cõi trời Phạm thiên đó.

Khi ấy, Đức Phật Sikhī nói với Tỷ kheo Abhibhū: 'Này bà-la-môn, hãy thuyết giảng Chánh pháp theo cảm hứng của con cho vị Phạm thiên đó, hội chúng của vị ấy, và các thành viên trong đoàn tùy tùng của vị ấy.'

'Vâng, thưa ngài,' Abhibhū trả lời. Rồi ngài đã giáo hóa, khuyến khích, truyền lửa, và truyền cảm hứng cho họ bằng một bài pháp thoại.

Nhưng vị Phạm thiên, hội chúng của vị ấy, và đoàn tùy tùng của vị ấy đã phàn nàn, càu nhàu, và phản đối: 'Ôi lạy Chúa, thật không thể tin được, thật tuyệt vời! Làm thế nào mà một đệ tử lại có thể thuyết giảng Chánh pháp trước sự hiện diện của Bậc Đạo Sư?'

Khi ấy, Đức Phật Sikhī nói với Tỷ kheo Abhibhū: 'Này bà-la-môn, vị Phạm thiên, hội chúng của vị ấy, và đoàn tùy tùng của vị ấy đang phàn nàn rằng một đệ tử lại thuyết giảng Chánh pháp trước sự hiện diện của Bậc Đạo Sư. Vậy thì, này bà-la-môn, hãy khuấy động họ nhiều hơn nữa!'

'Vâng, thưa ngài,' Abhibhū trả lời. Rồi ngài thuyết giảng Chánh pháp với thân thể hữu hình; với thân thể vô hình; với nửa thân dưới hữu hình và nửa thân trên vô hình; và với nửa thân trên hữu hình và nửa thân dưới vô hình.

Và vị Phạm thiên, hội chúng của vị ấy, và đoàn tùy tùng của vị ấy, tâm trí đầy kinh ngạc và thán phục, đã nghĩ: 'Ôi lạy Chúa, thật không thể tin được, thật tuyệt vời! Vị sa-môn có thần thông và uy lực như vậy!'

Khi ấy, Abhibhū nói với Đức Phật Sikhī: 'Bạch Thế Tôn, con nhớ đã nói điều này giữa Tăng đoàn: "Đứng trong cõi trời Phạm thiên, con có thể làm cho giọng nói của mình được nghe thấy khắp một ngàn thiên hà."'

'Bây giờ là lúc, này bà-la-môn! Bây giờ là lúc, này bà-la-môn! Đứng trong cõi trời Phạm thiên, hãy làm cho giọng nói của con được nghe thấy khắp một ngàn thiên hà.'

'Vâng, thưa ngài,' Abhibhū trả lời. Đứng trong cõi trời Phạm thiên, ngài đọc bài kệ này:

'Hãy tỉnh thức! Hãy cố gắng hơn nữa!
Hãy tận tâm với giáo pháp của Đức Phật!
Hãy nghiền nát đội quân của Tử thần,
như một con voi nghiền nát một túp lều bằng sậy.

Bất cứ ai sẽ thiền định siêng năng
trong giáo pháp và sự rèn luyện này,
từ bỏ sự luân hồi qua các kiếp sống,
sẽ chấm dứt khổ đau.'

Sau khi đã khơi dậy lòng kính sợ trong vị Phạm thiên đó, hội chúng của vị ấy, và đoàn tùy tùng của vị ấy, nhanh như một người mạnh duỗi hay co cánh tay, Đức Phật Sikhī và Abhibhū đã biến mất khỏi cõi trời Phạm thiên đó và hiện ra tại Aruṇavatī.

Khi ấy, Đức Phật Sikhī nói với các Tỷ kheo: 'Này các Tỷ kheo, các con có nghe thấy Tỷ kheo Abhibhū đọc một bài kệ khi đang đứng trong một cõi trời Phạm thiên không?'

'Chúng con có nghe, thưa ngài.'

'Nhưng chính xác thì các con đã nghe thấy gì?'

'Đây là những gì chúng con đã nghe, thưa ngài:

"Hãy tỉnh thức! Hãy cố gắng hơn nữa!
Hãy tận tâm với giáo pháp của Đức Phật!
Hãy nghiền nát đội quân của Tử thần,
như một con voi nghiền nát một túp lều bằng sậy.

Bất cứ ai sẽ thiền định siêng năng
trong giáo pháp và sự rèn luyện này,
từ bỏ sự luân hồi qua các kiếp sống,
sẽ chấm dứt khổ đau."

Đó là những gì chúng con đã nghe, thưa ngài.'

'Tốt lắm, tốt lắm, các Tỷ kheo! Thật tốt khi các con đã nghe Tỷ kheo Abhibhū đọc bài kệ này khi đang đứng trong một cõi trời Phạm thiên.'"

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Hài lòng, các Tỷ kheo đã tán thành những gì Đức Phật nói.

SN 6.15 Đại Bát Niết Bàn Parinibbānasutta

Một thời, Đức Phật đang ở giữa hai cây sala trong rừng sala của người Malla tại Upavattana gần Kusinārā vào thời điểm ngài nhập Đại Bát Niết-bàn (full extinguishment / sự tịch diệt hoàn toàn).

Khi ấy, Đức Phật nói với các Tỷ kheo: "Này các Tỷ kheo, ta nói với tất cả các con: 'Các pháp hữu vi đều vô thường. Hãy siêng năng tinh tấn.'"

Đây là những lời cuối cùng của bậc Như Lai.

Khi ấy, Đức Phật nhập vào sơ thiền. Ra khỏi đó, ngài nhập vào nhị thiền. Ra khỏi đó, ngài lần lượt nhập vào và ra khỏi tam thiền, tứ thiền, không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, và phi tưởng phi phi tưởng xứ. Rồi ngài nhập vào diệt thọ tưởng định.

Rồi ngài ra khỏi diệt thọ tưởng định và nhập vào phi tưởng phi phi tưởng xứ. Ra khỏi đó, ngài lần lượt nhập vào và ra khỏi vô sở hữu xứ, thức vô biên xứ, không vô biên xứ, tứ thiền, tam thiền, nhị thiền, và sơ thiền. Ra khỏi đó, ngài lần lượt nhập vào và ra khỏi nhị thiền và tam thiền. Rồi ngài nhập vào tứ thiền. Ra khỏi đó, Đức Phật ngay lập tức nhập Đại Bát Niết-bàn.

Khi Đức Phật nhập diệt, cùng với sự tịch diệt hoàn toàn, Phạm thiên Sahampati đọc bài kệ này:

"Tất cả chúng sanh trong thế giới này
đều phải đặt xuống tấm thân này.
Vì ngay cả một bậc Đạo Sư như thế,
không ai sánh bằng trên thế gian,
bậc Như Lai, đã đạt được năng lực,
Đức Phật cũng đã nhập diệt."

Khi Đức Phật nhập diệt, Sakka, vua của các vị trời, đọc bài kệ này:

"Ôi! Các pháp hữu vi là vô thường,
bản chất của chúng là sinh và diệt;
đã sinh ra, chúng phải diệt;
sự an tịnh của chúng là hạnh phúc."

Khi Đức Phật nhập diệt, Tôn giả Ānanda đọc bài kệ này:

"Khi ấy có sự kinh hoàng!
Khi ấy họ đã rùng mình!
Khi Đức Phật, người có đủ mọi phẩm chất tốt đẹp,
đã nhập diệt."

Khi Đức Phật nhập diệt, Tôn giả Anuruddha đọc bài kệ này:

"Không còn hơi thở nữa
đối với bậc vô nhiễm có tâm vững chãi.
Không xao động, tận tâm với sự an tịnh,
bậc Minh Kiến đã nhập diệt.

Ngài đã chịu đựng những cảm giác đau đớn
mà không hề nao núng.
Sự giải thoát của tâm ngài
giống như ngọn đèn đã tắt."