GIẢI PHẪU NÃO BỘ VÀ TÍNH CÁCH
Cha tôi, Hal Taylor, là một mục sư. Ông là một mục sư thuộc Giáo hội Giám nhiệm, đã được phong chức và hành nghề trong suốt thời thơ ấu của tôi. Khi tôi ở tuổi thiếu niên, ông trở thành một nhà trị liệu sau khi nhận bằng Tiến sĩ tâm lý học tham vấn. Cha Hal say mê con người từ mọi tầng lớp xã hội và kiếm sống bằng việc giúp các tập đoàn và tổ chức phi lợi nhuận phát triển kỹ năng xây dựng đội ngũ nhằm cải thiện hiệu quả quản lý và hoạt động của ban điều hành. Ông làm điều này bằng cách sử dụng hồ sơ tính cách và phân loại khí chất.
Cha Hal tâm huyết với việc giúp mọi người tự giúp chính mình, dù họ là chủ tịch các tổ chức, người bệnh tâm thần nặng, hay những người bị giam trong tù. Cha Hal có một tấm lòng vàng, và theo tôi, mục tiêu duy nhất trong đời ông là giúp mọi người hiểu rõ hơn về điểm mạnh của mình để họ có thể sống một cuộc đời trọn vẹn hơn. Phân loại khí chất là một công cụ tuyệt vời cho việc này. Công cụ chính của ông là Trắc nghiệm Phân loại Tính cách Myers-Briggs, một công cụ rất phổ biến trong những năm 1970, 80, 90 và vẫn đang được hơn một triệu người sử dụng mỗi năm.
Lần đầu tiên cha Hal cho tôi làm bài trắc nghiệm Myers-Briggs là khi tôi 18 tuổi và bắt đầu vào đại học. Giống như nhiều người khác, tôi đã phản kháng lại bản chất buộc phải lựa chọn của bài kiểm tra, bởi vì câu trả lời của tôi hoàn toàn phụ thuộc vào hoàn cảnh mà tôi hình dung ra. Ban đầu, kết quả của tôi là INTJ – một kiểu tính cách Hướng nội (Introverted), Trực giác (Intuitive), Lý trí (Thinking), và Nguyên tắc (Judging). Hồ sơ tính cách này, được nhà tâm lý học và chuyên gia phân loại khí chất David Keirsey gán cho nhãn là Nhà Khoa học, đã mô tả rõ ràng một nhân cách bên trong tôi, nhưng tôi chỉ là nhân cách đó trong một vài thời điểm. Khi đi chơi với bạn bè, tôi lại là một người thuộc loại ESFP – Người Trình diễn: Hướng ngoại (Extroverted), Cảm giác (Sensing), Cảm tính (Feeling), và Linh hoạt (Perceiving). Đến nỗi ở trường trung học, tôi còn được bình chọn là cây hài của lớp.
Trắc nghiệm Myers-Briggs đã không tính đến các kịch bản sống khác nhau, và vì nó đóng khung tôi vào một nhân cách duy nhất, tôi đã nghi ngờ tính chính xác của bài đánh giá. Điều này đã khơi dậy trong tôi sự tò mò và thôi thúc suốt đời để tìm kiếm một hệ thống phân loại tâm lý chính xác hơn về mặt giải phẫu học.
Nối gót cha mình, tôi trở nên say mê tâm lý học và não bộ, cũng như mối quan hệ giữa tâm trí, não bộ, cơ thể và hành vi của chúng ta. Tôi yêu thích bất cứ điều gì thuộc về sinh học con người.
CÁC THÍ NGHIỆM VỀ NÃO BỘ TÁCH RỜI
May mắn cho tôi, tôi là sinh viên đại học vào cuối những năm 70, khi ngành khoa học thần kinh đã trở nên phổ biến và những ca phẫu thuật não bộ tách rời nổi tiếng đã thu hút sự chú ý của công chúng. Nói không ngoa, tôi đã bị cuốn hút bởi công trình của Tiến sĩ Roger Sperry, người đã phẫu thuật tách rời hai bán cầu đại não của một vài bệnh nhân động kinh.
Khi Tiến sĩ Sperry phẫu thuật cắt thể chai (corpus callosum) – một dải gồm khoảng 300 triệu sợi trục thần kinh kết nối hai bán cầu đại não – trong một thủ thuật gọi là phẫu thuật cắt mép liên bán cầu (commissurotomy), ông đã ngăn chặn thành công hoạt động co giật nguy hiểm từ bán cầu này lan sang bán cầu kia. Thủ thuật này còn mang lại một lợi ích khác: các thí nghiệm tâm lý được Tiến sĩ Michael Gazzaniga thực hiện trên nhóm bệnh nhân này đã mang lại những hiểu biết sâu sắc về cách hai bán cầu não của chúng ta hoạt động khác nhau khi chúng bị tách rời.
Là một nhà khoa học thần kinh vừa vào nghề, tôi đặc biệt bị mê hoặc bởi những câu chuyện kiểu “Bác sĩ Jekyll và ông Hyde” từ các thí nghiệm này, chúng mô tả sự khác biệt đáng kinh ngạc về năng lực tâm lý và giải phẫu nền tảng của hai bán cầu đại não. Rõ ràng là khi hai bán cầu bị tách rời, các bệnh nhân não bộ tách rời hành xử như thể họ là hai nhân cách riêng biệt thường hành động đối nghịch trực tiếp với nhau.
Ở một số bệnh nhân này, nhân cách “ngự trị” ở bán cầu não phải sẽ trực tiếp mâu thuẫn với ý định và hành vi của nhân cách “ngự trị” ở bán cầu não trái. Ví dụ, khi một quý ông cố gắng tát vợ bằng tay trái (não phải), thì đồng thời lại dùng tay phải (não trái) để bảo vệ bà. Trong một lần khác, cũng chính người đàn ông này rõ ràng đã bị xung đột khi dùng một tay kéo quần xuống trong khi tay kia lại đồng thời kéo quần lên.
Một bệnh nhân khác, là một đứa trẻ, có khả năng ngôn ngữ hoàn toàn ở cả hai bán cầu. Khi được hỏi về mục tiêu cuộc đời, nhân cách não phải của cậu bé cho biết cậu muốn lớn lên trở thành một tay đua xe, trong khi nhân cách não trái lại muốn trở thành một họa viên kỹ thuật. Một bệnh nhân phẫu thuật cắt mép liên bán cầu khác kể rằng bà phải “vật lộn” với chính mình mỗi sáng khi chọn quần áo. Bà mô tả tay phải và tay trái của mình như hai cực nam châm đẩy nhau, mỗi bên đều có những phong cách khác nhau về việc bà nên mặc gì ngày hôm đó. Điều tương tự cũng xảy ra khi bà mua thực phẩm ở cửa hàng tạp hóa, vì hai nhân cách ở hai bán cầu của bà lại quan tâm đến những nền ẩm thực hoàn toàn khác nhau. Phải mất hơn một năm sau ca phẫu thuật, bà mới có thể làm chủ được một ý định duy nhất và chủ đích kìm hãm cuộc chiến nội tâm đang diễn ra giữa hai nhân cách ở hai bán cầu có quan điểm khác biệt của mình.
Khi nghe những câu chuyện này, điều quan trọng cần lưu ý là sự khác biệt về mặt giải phẫu duy nhất giữa những bệnh nhân này và bạn và tôi là hai bán cầu đại não của chúng ta giao tiếp với nhau thông qua các kết nối của thể chai. Các nhà khoa học hiểu rằng về mặt giải phẫu thần kinh, phần lớn các sợi mép liên bán cầu này có bản chất ức chế và chúng chạy từ một nhóm tế bào ở bán cầu này đến nhóm tế bào tương ứng ở bán cầu đối diện. Tại bất kỳ thời điểm nào, cả hai bán cầu đều có các tế bào đang hoạt động, nhưng các nhóm tế bào ở hai bán cầu đối lập liên tục hoán đổi vai trò thống trị và ức chế.
Bằng cách này, một bán cầu có khả năng ức chế chức năng của các tế bào tương ứng ở bán cầu đối diện, qua đó chiếm ưu thế trong chức năng của nhóm tế bào cụ thể đó. Ví dụ, khi chúng ta tập trung vào từ ngữ và ý nghĩa của những gì ai đó đang nói (não trái), chúng ta có xu hướng không tập trung nhiều vào ngữ điệu giọng nói hoặc nội dung cảm xúc (não phải) trong lời nói của họ. Ngược lại – bạn đã bao giờ bị choáng váng đến mức ai đó đang la hét vào mặt bạn mà bạn hoàn toàn không hiểu họ đang cố nói gì chưa?
Vào những năm 70 và 80, xã hội đã có phần phản ứng thái quá trước các nghiên cứu về não bộ tách rời, và đủ loại chương trình cộng đồng dựa trên “não phải” và “não trái” đã xuất hiện. Nhiều trường học thậm chí còn tham gia và thiết lập các chương trình giảng dạy giúp kích thích một hoặc cả hai bán cầu. Những khuôn mẫu về người thiên về não trái và người thiên về não phải đã trở nên phổ biến, theo đó người thiên về não trái có vẻ ngăn nắp, đúng giờ và giỏi chi tiết hơn, trong khi người thiên về não phải lại phát triển mạnh về sáng tạo, đổi mới và thể thao.
Thật không may, để hưởng ứng cơn sốt não trái/não phải, chiến lược mà nhiều bậc cha mẹ áp dụng để giúp con mình vượt lên là cho chúng tiếp xúc với các chương trình phù hợp với thiên hướng tự nhiên của chúng. Điều này tất nhiên là hợp lý, vì họ muốn con mình được khen thưởng vì những gì chúng làm tốt. Nhưng nếu mục tiêu của họ là tạo ra những đứa trẻ phát triển toàn diện, cân bằng cả hai bán cầu não, thì một kế hoạch tốt hơn có thể là khuyến khích con cái tham gia vào các hoạt động mà chúng không giỏi. Ví dụ, họ có thể khuyến khích những đứa trẻ thiên về não trái, giỏi khoa học và toán học, tham gia các sự kiện ngoài trời để chúng có thể khám phá và thu thập dữ liệu trong rừng. Và họ có thể lôi cuốn những đứa trẻ có năng khiếu thể thao và nghệ thuật tham gia thiết kế một cách sáng tạo các dự án hội chợ khoa học thật thú vị để đo lường một loại hiệu suất nào đó.
Tuy nhiên, vì các bậc cha mẹ đã làm theo cách của họ, trong 40 năm qua, chúng ta đã đẩy năng lực của mình lệch về hai thái cực. Đã có một số bài viết và giáo trình được thiết kế đặc biệt để giúp phát triển phần không chiếm ưu thế của chúng ta, bao gồm cuốn sách Drawing on the Right Side of the Brain (Vẽ bằng bán cầu não phải), một tác phẩm kinh điển và vẫn được sử dụng rộng rãi ngày nay. Ngoài ra, bạn không cần phải tìm đâu xa để nhận ra các nhà tiếp thị đã thành thạo các chiến lược quảng cáo của họ như thế nào để nhắm vào sở thích não phải hoặc não trái của chúng ta. Ngay cả các hệ thống máy tính của chúng ta cũng phù hợp với khuôn mẫu này: Các sản phẩm của Apple được xem là sáng tạo theo kiểu não phải, trong khi bất cứ thứ gì dựa trên Windows đều đậm chất phân tích của não trái. Bạn còn nhớ chiếc Blackberry không? Nó từng khiến bán cầu não phải của tôi rên rỉ.
CÁCH HAI BÁN CẦU NÃO HOẠT ĐỘNG
Ngoài những nỗ lực khoa học đại chúng được thiết kế để khai thác sự khác biệt khuôn mẫu giữa hai bán cầu não, một kho tàng khoa học dựa trên bằng chứng hiện nay cung cấp cho chúng ta một sự hiểu biết khá rõ ràng về cả sự khác biệt về giải phẫu và chức năng giữa hai nửa bộ não. Đối với bất kỳ ai quan tâm đến cả bức tranh toàn cảnh và chi tiết về những gì chúng ta đã học được liên quan đến những khác biệt này trong nửa thế kỷ qua, cuốn sách The Master and His Emissary (Chủ nhân và Sứ giả của ngài) của bác sĩ tâm thần người Anh, Tiến sĩ Iain McGilchrist, là một tài liệu hấp dẫn và cập nhật.
Ngoài ra, nếu bạn quan tâm đến cách một bác sĩ tâm thần của Harvard làm việc với các nhân cách não trái và não phải trong nỗ lực giúp bệnh nhân chữa lành các vấn đề liên quan đến bệnh tâm thần, cuốn sách Of Two Minds (Lưỡng tâm) của Tiến sĩ Fredric Schiffer sẽ thực sự giúp bạn mở mang tầm mắt. Cuốn sách thậm chí còn đề cập đến việc hai nhân cách ở hai bán cầu của chúng ta khác nhau đến mức mỗi bên thực sự có thể biểu hiện những cơn đau nhức riêng biệt mà bên kia không thừa nhận hoặc thể hiện.
Hơn nữa, nếu bạn đang tìm kiếm một công cụ thay thế trong cách quản lý các vấn đề sức khỏe tâm thần, mô hình Hệ thống Gia đình Nội tại (Internal Family Systems) của Tiến sĩ Richard Schwartz là một chiến lược thú vị, công nhận và làm việc với các phần khác nhau trong tính cách của một người để chúng có thể hợp tác tìm ra một giải pháp lành mạnh. Mỗi cuốn sách và công cụ này đều rất hấp dẫn nếu bạn muốn tìm hiểu thêm về não bộ.
Cả hai bán cầu đại não của chúng ta đều liên tục đóng góp vào tổng thể của bất kỳ khoảnh khắc trải nghiệm nào, vì vậy tôi không có ý nói rằng não trái hay não phải hoạt động một cách riêng lẻ. Công nghệ hiện đại cho thấy rõ ràng rằng tại bất kỳ thời điểm nào, cả hai bán cầu đều đang đóng góp vào việc tiếp nhận, trải nghiệm và xử lý đầu ra của hệ thần kinh. Tuy nhiên, như tôi đã nói trước đây, các tế bào não thống trị và ức chế các tế bào đối ứng của chúng như một cơ chế hoạt động tiêu chuẩn, vì vậy não bộ không bao giờ ở trạng thái bật hoàn toàn hay tắt hoàn toàn trong bất kỳ hoàn cảnh nào, trừ khi tử vong.
Khi chúng ta nghĩ về cách bộ não hoạt động, một câu hỏi tự nhiên sẽ nảy sinh: “Làm thế nào mà một nhóm tế bào não có thể phối hợp với nhau để tạo ra một tính cách?” Tôi không phải là người đầu tiên đặt câu hỏi này, cũng không phải là người đầu tiên trải qua chấn thương não, biểu hiện sự thay đổi trong tính cách, và sau đó phục hồi các tế bào bị tổn thương, lấy lại các mạch cũ, bộ kỹ năng cũ và các đặc điểm tính cách đã mất. Tuy nhiên, tôi có thể là nhà giải phẫu thần kinh đầu tiên thực hiện hành trình đặc biệt này đi sâu vào hoạt động thần kinh và tâm lý của bộ não mình, và sau đó rút ra những hiểu biết độc đáo này liên quan đến Bốn Nhân cách của chúng ta.
Các tế bào não là những sinh vật nhỏ bé xinh đẹp với nhiều hình dạng và kích cỡ khác nhau, và thiết kế của chúng quyết định khả năng thực hiện chức năng cụ thể của chúng. Ví dụ, các tế bào thần kinh cảm giác nằm trong vỏ não thính giác sơ cấp của mỗi bán cầu có hình dạng độc đáo hỗ trợ khả năng xử lý thông tin âm thanh. Các tế bào thần kinh khác có chức năng kết nối các vùng khác nhau trong não có hình dạng phù hợp cho hoạt động đó, cũng như các tế bào của hệ vận động.
Về mặt giải phẫu thần kinh, điều quan trọng cần lưu ý là các tế bào thần kinh trong não bạn và cách chúng kết nối với nhau về cơ bản là giống nhau ở tất cả chúng ta. Về mặt cấu trúc, những nếp lồi và rãnh của lớp vỏ đại não ngoài cùng của mọi người gần như giống hệt nhau, đến mức tổn thương ở một khu vực cụ thể trong não bạn sẽ xóa sổ chức năng tương tự như trong não tôi, nếu tôi cũng bị chấn thương tương tự. Lấy ví dụ về vỏ não vận động, nếu bạn và tôi cùng bị tổn thương ở cùng một nhóm tế bào cụ thể trong cùng một bán cầu, chúng ta rất có thể sẽ bị liệt ở cùng một bộ phận trên cơ thể.
Nền tảng cho sự khác biệt chức năng giữa hai bán cầu của chúng ta là các tế bào thần kinh xử lý thông tin theo những cách độc đáo. Ví dụ, các tế bào ở não trái của chúng ta hoạt động theo đường thẳng (tuyến tính): chúng lấy một ý tưởng, so sánh ý tưởng đó với ý tưởng tiếp theo, và sau đó so sánh sản phẩm phụ của những ý tưởng đó với ý tưởng tiếp theo. Do đó, não trái của chúng ta có khả năng tư duy tuần tự. Ví dụ, chúng ta biết rằng cần phải khởi động động cơ trước khi vào số. Bán cầu não trái của chúng ta là một bộ xử lý nối tiếp tuyệt vời, không chỉ tạo ra tính tuyến tính trừu tượng như 1+1=2 mà còn biểu hiện cho chúng ta tính thời gian, cảm nhận tuyến tính về thời gian, qua đó chúng ta có thể phân tách quá khứ, hiện tại và tương lai.
Các tế bào não phải của chúng ta hoàn toàn không được thiết kế để tạo ra trật tự tuyến tính. Thay vào đó, bán cầu não phải của chúng ta hoạt động như một bộ xử lý song song, tiếp nhận nhiều luồng dữ liệu đồng thời để tạo ra một khoảnh khắc trải nghiệm phức hợp duy nhất. Não phải của chúng ta biểu hiện một bức tranh tổng hợp phong phú về khoảnh khắc hiện tại, ngay tại đây, ngay bây giờ bằng cách thêm chiều sâu vào việc tạo ra ký ức của chúng ta, vốn chịu ảnh hưởng của cả hai bán cầu.
Mặc dù nhiều tế bào não của chúng ta chịu trách nhiệm thực hiện những việc rõ ràng như hiểu ngôn ngữ hoặc biểu hiện thị giác, các tế bào thần kinh khác lại có chức năng tạo ra suy nghĩ hoặc cảm xúc của chúng ta. Chúng ta sử dụng thuật ngữ mô-đun để mô tả cách các nhóm tế bào thần kinh kết nối với nhau để hoạt động cùng nhau như một tập hợp. Ví dụ, mỗi Nhân cách trong Bốn Nhân cách của chúng ta đều được hỗ trợ bởi một mô-đun tế bào thần kinh cụ thể và độc đáo của riêng nó.
Khi tôi bị xuất huyết ở bán cầu não trái, hầu hết các tế bào ở đó chỉ đơn giản là ngừng hoạt động do viêm, sưng và áp lực tích tụ trong hộp sọ. Do chấn thương, các tế bào não trái kẻ trước đây ức chế các tế bào não phải (thông qua thể chai) đã bị phá vỡ sự ức chế của chúng, hiện tượng giống như ở các bệnh nhân tách rời não bộ. Khi điều này xảy ra, các nhân cách của mạng lưới tư duy não trái và cảm xúc não trái của tôi lùi lại, trong khi các nhân cách tương ứng của các mô-đun tư duy và cảm xúc của não phải trở nên không bị ràng buộc, không bị kiềm chế, trở nên thống trị và tự do tung hoành.
Nếu bạn tò mò về việc làm thế nào tôi có thể nhớ lại các sự kiện xảy ra vào buổi sáng bị đột quỵ, ngay cả khi não trái của tôi đã ngừng hoạt động, điều quan trọng cần lưu ý là mặc dù các mạch trong não trái của tôi đã tắt do chấn thương, tôi không chết, cũng không bất tỉnh. Ngoài ra, cơn đột quỵ không phải là một vụ nổ – bùm – rồi kết thúc. Thay vào đó, sau khi mạch máu trong bán cầu não trái của tôi vỡ ra, trong suốt bốn giờ, máu từ từ rỉ vào mô não trái đó, làm các mạch thần kinh lần lượt ngừng hoạt động. Tôi trải nghiệm cơn đột quỵ giống một đường ống rò rỉ chậm hơn là một sự cố mất điện tức thời. Kết quả là, não phải của tôi vẫn giữ được khả năng phát lại ký ức về buổi sáng hôm đó, giống như một đoạn video.
Đến khi não trái của tôi cuối cùng ngừng hoạt động hoàn toàn, tôi đã trôi vào ý thức bình yên của não phải, nơi tôi mất hết mọi cảm giác cấp bách. Về mặt thời gian, não phải của tôi chỉ tồn tại trong khoảnh khắc hiện tại, không có hối tiếc quá khứ, sợ hãi hiện tại hay kỳ vọng tương lai. Kinh nghệm từ điều này và tám năm phục hồi sau phẫu thuật, tôi thấy rõ ràng là công việc của các mạch não phải của tôi là xử lý trải nghiệm của khoảnh khắc hiện tại, ngay tại đây, ngay bây giờ.
Mặt khác, bán cầu não trái của tôi đã hoạt động như một cây cầu xuyên thời gian: nó chịu trách nhiệm liên kết khoảnh khắc hiện tại này với khoảnh khắc quá khứ và sau đó là khoảnh khắc tiếp theo. Bằng cách nào đó, các tế bào trong não trái của tôi đã được tổ chức theo cách mà tôi có khả năng tư duy tuyến tính.
Một cách kỳ diệu, não trái của tôi hiểu rằng tôi cần phải đi tất trước khi đi giày.
Rõ ràng, chúng ta có hai bán cầu là có lý do, và không có não trái, chúng ta hoàn toàn không thể hoạt động trong thế giới bên ngoài, vì chúng ta không có quá khứ hay tương lai, không có tư duy tuyến tính, không có ngôn ngữ, và không có cảm nhận về ranh giới nơi chúng ta bắt đầu hay kết thúc. Não trái mang lại cho chúng ta cá tính riêng, trong khi não phải kết nối chúng ta với ý thức không chỉ của toàn thể nhân loại mà còn của ý thức bao la, rộng lớn của vũ trụ.
Bằng cách có cả hai bán cầu này hoạt động cùng nhau trong một cái đầu, chúng ta trải nghiệm một sự đối lập tự nhiên. Kết quả là, việc chúng ta phải chịu đựng một cuộc xung đột nội tâm không ngừng là điều bình thường, hoàn toàn dựa trên hai góc nhìn tự chủ độc lập giữa não trái và não phải. Ví dụ, não trái của tôi có thể muốn bắt tay vào làm bài tập về nhà ngay lập tức và hoàn thành nó, trong khi não phải của tôi lại muốn ra ngoài chơi, để công việc đến phút cuối mới làm.
BỐN NHÂN CÁCH TRONG NÃO BỘ CHÚNG TA
Sự khác biệt giữa hai bán cầu còn lớn hơn nhiều so với chỉ là giải phẫu, sinh lý và các bộ kỹ năng đi kèm. Trải nghiệm của tôi về việc mất đi não trái và sau đó xây dựng lại nó trong suốt tám năm đã dạy tôi rằng ngoài việc thực hiện các khả năng đối lập và xây dựng các thực tại khác nhau, mỗi bán cầu não của tôi còn là nơi cư ngụ của những nhân cách rất cụ thể và có thể dự đoán được. Đây là Bốn Nhân cách mà bạn đã gặp sơ qua trong chương trước.
Cụ thể hơn, khi phục hồi, lúc tôi cứu vãn được các chức năng của mô-đun tư duy của não trái (Nhân cách 1), cùng với chúng là sự trở lại của nhân cách hướng đến mục tiêu, có tổ chức, bài bản, thích kiểm soát, người đã thống trị cuộc sống của tôi trước cơn đột quỵ. Cô ấy mạnh mẽ, quyền lực, có năng lực, giỏi thao túng, quản lý thời gian tốt và cực kỳ hay phán xét. Sau khi phục hồi, cô ấy muốn trở lại làm chủ bên trong bộ não của tôi.
Ngoài ra, khi Nhân cách 1 Tư duy Não trái này lấy lại khả năng xử lý thông tin một cách tuyến tính, cũng như phán xét mọi thứ là đúng/sai hoặc tốt/xấu, tôi đã phục hồi khả năng trải nghiệm những cảm xúc phụ thuộc vào một ký ức từ một nơi và thời điểm khác. Ví dụ, chúng ta có khả năng cảm thấy tội lỗi hoặc xấu hổ để phản ứng với điều gì đó đã xảy ra, hoặc chúng ta có thể tích tụ sự oán giận theo thời gian, hoặc tìm cách trả thù cho điều gì đó đã xảy ra trong quá khứ. Một khi mô-đun cảm xúc của não trái của tôi hồi phục đủ để hoạt động trở lại, tôi có thể trải nghiệm lại những loại cảm xúc này. Nhưng cũng giống như một Nhân cách 1 nghiêm khắc và năng suất đã trở lại cùng với mô tư duy não trái, một Nhân cách 2 đau khổ và thận trọng đã trở lại cùng với mạng lưới tế bào cảm xúc của não trái.
Phải thừa nhận rằng tôi được tận hưởng việc không còn bất kỳ nỗi đau nào từ quá khứ trong mô-đun cảm xúc não trái của mình nữa, vì tôi không hề nhớ nhung những mạch cảm xúc bi thương thời thơ ấu đó. Tuy nhiên, nói như vậy không có nghĩa là cuộc sống thiếu đi sự phong phú của những cảm xúc sâu sắc không phải là một nơi tồn tại phẳng lặng. Nhân cách 2 cảm xúc não trái này cảm nhận và biết nỗi đau quá khứ của chúng ta, và chính nhân cách này có thể đẩy chúng ta đến bờ vực của sự phát triển tiềm năng và, hoặc là đẩy chúng ta qua bờ vực đó, hoặc là kéo chúng ta lùi về vùng an toàn quen thuộc. Tôi phải biết điều gì là an toàn và không an toàn nếu tôi muốn xác định ranh giới an toàn của mình. Tôi phải biết điều gì là đúng với mình để biết điều gì là không đúng. Tôi phải biết bóng tối hay nỗi buồn để nhận ra ánh sáng hay niềm vui.
Chính Nhân cách 2 cảm xúc não trái của chúng ta là người gào thét, than khóc và thịnh nộ chống lại tất cả những bất công mà nó đã nhận thấy là gây tổn thương, nguy hiểm hoặc không công bằng. Nó cũng kìm hãm chúng ta, bỏ chạy hoặc chết lặng khi có điều gì đó kích hoạt nỗi sợ của chúng ta. Trong những năm qua, công việc của nhân cách dịu dàng và dễ bị tổn thương này là lưu giữ nỗi đau quá khứ của chúng ta để bảo vệ tương lai. Nếu chúng ta muốn phát triển thành phiên bản tốt nhất của mình và sống cuộc sống tốt nhất, chúng ta phải tạo ra một mối quan hệ lành mạnh với Nhân cách 2 não trái của mình. Chúng ta trưởng thành và phát triển khi chúng ta đủ dũng cảm để đứng giữa trung tâm nỗi đau của chính mình và lắng nghe những gì nó đang cố gắng truyền đạt.
Trong quá trình hồi phục của tôi, Nhân cách 4 Tư duy Não phải mới chiếm ưu thế, người cảm thấy cởi mở, khoáng đạt, nhân hậu và rộng lớn như vũ trụ, không mấy mặn mà với việc để cho Nhân cách 1 bị thúc đẩy bởi căng thẳng của não tư duy trái đã phục hồi nhảy valse quay trở lại để thống trị ý thức của tôi. Mặc dù tôi phải nói rằng tôi rất vui mừng khi có những mạng lưới thần kinh đó hoạt động trở lại, để tôi có thể nói và hiểu khi người khác nói với tôi và biết lại ranh giới của cơ thể mình, tôi vẫn thích hiện thân của lòng biết ơn bình yên vô tận trong trái tim rộng mở của Nhân cách 4 hơn. Đó là lý do tại sao tôi đã chủ động lựa chọn duy trì sự thống trị của não phải. Và nếu tôi có thể chọn mạch thần kinh nào mình muốn vận hành, thì bạn cũng vậy.
Khi bạn đọc cuốn sách này, bạn sẽ học được nhiều điều hơn về mỗi Nhân cách trong Bốn Nhân cách của mình, cảm giác của chúng bên trong cơ thể bạn, và cách bạn cũng có thể lựa chọn mình là ai và muốn trở thành người như thế nào trong bất kỳ khoảnh khắc nào.