Skip to content

Phẩm về Sự Oán Giận

AN 5.161 Đoạn Trừ Oán Giận (1) Paṭhamaāghātapaṭivinayasutta

"Này các Tỳ kheo, một vị Tỳ kheo nên dùng năm phương pháp này để đoạn trừ hoàn toàn sự oán giận khi nó khởi lên đối với bất kỳ ai. Năm phương pháp đó là gì?

Con nên phát triển tâm từ (love / lòng yêu thương) đối với người mà con oán giận. Đó là cách để đoạn trừ sự oán giận đối với người đó.

Con nên phát triển lòng bi (compassion / lòng thương xót) đối với người mà con oán giận. ...

Con nên phát triển tâm xả (equanimity / tâm bình thản) đối với người mà con oán giận. ...

Con nên lờ đi người mà con oán giận, không chú ý đến họ. ...

Con nên tập trung vào nghiệp (deeds / hành động và kết quả của hành động) và quyền thừa kế nghiệp của người đó: 'Vị tôn giả này là chủ nhân của nghiệp và là người thừa kế nghiệp của mình. Nghiệp là thai tạng, là quyến thuộc, là nơi nương tựa của họ. Họ sẽ là người thừa kế bất cứ nghiệp nào họ làm, dù tốt hay xấu.' Đó là cách để đoạn trừ sự oán giận đối với người đó.

Một vị Tỳ kheo nên dùng năm phương pháp này để đoạn trừ hoàn toàn sự oán giận khi nó khởi lên đối với bất kỳ ai."

AN 5.162 Đoạn Trừ Oán Giận (2) Dutiyaāghātapaṭivinayasutta

Tại đó, Tôn giả Sāriputta nói với các Tỳ kheo: "Này chư Hiền, các Tỳ kheo!"

"Thưa Hiền giả," họ đáp. Tôn giả Sāriputta nói:

"Này chư Hiền, một vị Tỳ kheo nên dùng năm phương pháp này để đoạn trừ hoàn toàn sự oán giận khi nó khởi lên đối với bất kỳ ai. Năm phương pháp đó là gì?

Trường hợp một người có hành vi qua thân không trong sạch, nhưng hành vi qua lời nói lại trong sạch, con nên đoạn trừ sự oán giận đối với người như vậy.

Trường hợp một người có hành vi qua lời nói không trong sạch, nhưng hành vi qua thân lại trong sạch, ...

Trường hợp một người có hành vi qua thân và lời nói không trong sạch, nhưng thỉnh thoảng có được sự cởi mở và trong sáng của tâm (openness and clarity of heart / tâm trí thoáng đãng và sáng suốt), ...

Trường hợp một người có hành vi qua thân và lời nói không trong sạch, và thỉnh thoảng không có được sự cởi mở và trong sáng của tâm, ...

Trường hợp một người có hành vi qua thân và lời nói trong sạch, và thỉnh thoảng có được sự cởi mở và trong sáng của tâm, con nên đoạn trừ sự oán giận đối với người như vậy.

Làm thế nào để đoạn trừ oán giận đối với một người có hành vi qua thân không trong sạch, nhưng hành vi qua lời nói lại trong sạch? Ví như một vị Tỳ kheo mặc y phấn tảo (rag robes / y may từ vải vụn nhặt được) thấy một miếng giẻ bên vệ đường. Vị ấy dùng chân trái giữ lại, dùng chân phải trải ra, xé lấy phần còn nguyên vẹn và mang đi. Cũng vậy, lúc đó con nên bỏ qua hành vi không trong sạch qua thân của người đó và tập trung vào hành vi trong sạch qua lời nói của họ. Đó là cách để đoạn trừ sự oán giận đối với người đó.

Làm thế nào để đoạn trừ oán giận đối với một người có hành vi qua lời nói không trong sạch, nhưng hành vi qua thân lại trong sạch? Ví như có một hồ sen phủ đầy rêu và cây thủy sinh. Rồi một người đi đến, đang vật lộn với cái nóng oi bức, mệt mỏi, khát khô. Người ấy lao xuống hồ sen, gạt rêu và cây thủy sinh ra, dùng tay vốc nước uống, rồi đi tiếp. Cũng vậy, lúc đó con nên bỏ qua hành vi không trong sạch qua lời nói của người đó và tập trung vào hành vi trong sạch qua thân của họ. Đó là cách để đoạn trừ sự oán giận đối với người đó.

Làm thế nào để đoạn trừ oán giận đối với một người có hành vi qua thân và lời nói không trong sạch, nhưng thỉnh thoảng có được sự cởi mở và trong sáng của tâm? Ví như có một ít nước trong dấu chân bò. Rồi một người đi đến, đang vật lộn với cái nóng oi bức, mệt mỏi, khát khô. Người ấy có thể nghĩ: 'Chút nước ít ỏi này ở trong dấu chân bò. Nếu ta dùng tay hay bát để uống, ta sẽ làm nó vẩn đục và khuấy động, khiến không thể uống được. Sao ta không cúi rạp bốn chi xuống và uống như bò, rồi đi tiếp?' Và người ấy làm như vậy. Cũng vậy, lúc đó con nên bỏ qua hành vi không trong sạch qua lời nói và thân của người đó, và tập trung vào việc thỉnh thoảng họ có được sự cởi mở và trong sáng của tâm. Đó là cách để đoạn trừ sự oán giận đối với người đó.

Làm thế nào để đoạn trừ oán giận đối với một người có hành vi qua thân và lời nói không trong sạch, và thỉnh thoảng không có được sự cởi mở và trong sáng của tâm? Ví như một người đang đi trên đường, bị bệnh, đau khổ, ốm nặng. Và còn xa mới đến làng, dù đi tới hay lui. Và họ không có thức ăn hay thuốc men phù hợp, không có người chăm sóc có khả năng, hay ai đó đưa họ vào làng. Một người khác đi trên đường có thể thấy họ, và chỉ nghĩ về họ với lòng cảm thông, tử tế và thương xót: 'Ôi, mong sao người này có được thức ăn hay thuốc men phù hợp, hoặc người chăm sóc có khả năng, hoặc ai đó đưa họ vào làng. Tại sao vậy? Để họ không bị hủy hoại ngay tại đây.' Cũng vậy, lúc đó con nên bỏ qua hành vi không trong sạch qua lời nói và thân của người đó, và việc thỉnh thoảng họ không có được sự cởi mở và trong sáng của tâm, và chỉ nghĩ về họ với lòng bi, lòng từ và lòng cảm thông: 'Ôi, mong sao người này từ bỏ hành vi xấu (bad conduct / cách cư xử không tốt) qua thân, lời, ý và phát triển hành vi tốt (good conduct / cách cư xử tốt đẹp) qua thân, lời, ý. Tại sao vậy? Để sau khi thân hoại mạng chung, họ không tái sinh vào cõi khổ (place of loss / nơi đau khổ), ác xứ (bad place / nơi xấu xa), đọa xứ (underworld / nơi sa đọa), địa ngục (hell / nơi thống khổ cùng cực).' Đó là cách để đoạn trừ sự oán giận đối với người đó.

Làm thế nào để đoạn trừ oán giận đối với một người có hành vi qua thân và lời nói trong sạch, và thỉnh thoảng có được sự cởi mở và trong sáng của tâm? Ví như có một hồ sen nước trong, ngọt, mát, sạch, bờ thoai thoải, dễ chịu, và được nhiều cây che bóng. Rồi một người đi đến, đang vật lộn với cái nóng oi bức, mệt mỏi, khát khô. Người ấy lao xuống hồ sen tắm và uống. Sau khi lên bờ, họ ngồi hoặc nằm ngay dưới bóng cây.

Cũng vậy, lúc đó con nên tập trung vào hành vi trong sạch qua thân và lời nói của người đó, và vào việc thỉnh thoảng họ có được sự cởi mở và trong sáng của tâm. Đó là cách để đoạn trừ sự oán giận đối với người đó. Nương tựa vào một người đáng kính trọng về mọi mặt, tâm trở nên vững tin.

Một vị Tỳ kheo nên dùng năm phương pháp này để đoạn trừ hoàn toàn sự oán giận khi nó khởi lên đối với bất kỳ ai."

AN 5.163 Thảo Luận Sākacchasutta

Tại đó, Tôn giả Sāriputta nói với các Tỳ kheo: "Này chư Hiền, các Tỳ kheo!"

"Thưa Hiền giả," họ đáp. Tôn giả Sāriputta nói:

"Một vị Tỳ kheo có năm phẩm chất thì xứng đáng để thảo luận với các bạn đồng tu (spiritual companions / những người cùng thực hành tâm linh). Năm phẩm chất đó là gì?

Vị Tỳ kheo tự mình thành tựu về giới hạnh (ethics / đạo đức), và trả lời các câu hỏi phát sinh khi thảo luận về sự thành tựu giới hạnh.

Vị ấy tự mình thành tựu về định (immersion / sự tập trung tâm), ...

Vị ấy tự mình thành tựu về trí tuệ (wisdom / sự hiểu biết đúng đắn), ...

Vị ấy tự mình thành tựu về giải thoát (freedom / sự thoát khỏi khổ đau), ...

Vị ấy tự mình thành tựu về tri kiến giải thoát (knowledge and vision of freedom / sự thấy biết về giải thoát), và trả lời các câu hỏi phát sinh khi thảo luận về sự thành tựu tri kiến giải thoát.

Một vị Tỳ kheo có năm phẩm chất này thì xứng đáng để thảo luận với các bạn đồng tu."

AN 5.164 Chia Sẻ Đời Sống Sājīvasutta

Tại đó, Tôn giả Sāriputta nói với các Tỳ kheo:

"Một vị Tỳ kheo có năm phẩm chất thì xứng đáng để chia sẻ đời sống với các bạn đồng tu. Năm phẩm chất đó là gì?

Vị Tỳ kheo tự mình thành tựu về giới hạnh, và trả lời các câu hỏi phát sinh khi thảo luận về sự thành tựu giới hạnh.

Vị ấy tự mình thành tựu về định, ...

Vị ấy tự mình thành tựu về trí tuệ, ...

Vị ấy tự mình thành tựu về giải thoát, ...

Vị ấy tự mình thành tựu về tri kiến giải thoát, và trả lời các câu hỏi phát sinh khi thảo luận về sự thành tựu tri kiến giải thoát.

Một vị Tỳ kheo có năm phẩm chất này thì xứng đáng để chia sẻ đời sống với các bạn đồng tu."

AN 5.165 Đặt Câu Hỏi Pañhapucchāsutta

Tại đó, Tôn giả Sāriputta nói với các Tỳ kheo: ... "Bất cứ ai đặt câu hỏi cho người khác, đều làm vậy vì một trong năm lý do này. Năm lý do đó là gì? Có người đặt câu hỏi cho người khác vì ngu si và khờ dại. Hoặc họ hỏi vì mong muốn xấu xa (corrupt wishes / ý định không tốt), có tâm tính tham muốn. Hoặc họ hỏi để chê bai. Hoặc họ hỏi vì muốn hiểu. Hoặc họ hỏi với ý nghĩ: 'Nếu họ trả lời đúng câu hỏi ta đặt ra thì tốt. Nếu không, ta sẽ trả lời đúng cho họ.' Bất cứ ai đặt câu hỏi cho người khác, đều làm vậy vì một trong năm lý do này. Còn về phần ta, ta hỏi với ý nghĩ: 'Nếu họ trả lời đúng câu hỏi ta đặt ra thì tốt. Nếu không, ta sẽ trả lời đúng cho họ.'"

AN 5.166 Diệt Nirodhasutta

Tại đó, Tôn giả Xá-lợi-phất nói với các Tỳ kheo:

"Này chư Hiền, hãy xét một vị Tỳ kheo thành tựu về giới (ethics / đạo đức), định (immersion / sự tập trung tâm), và trí tuệ (wisdom / trí tuệ). Vị ấy có thể nhập và xuất diệt thọ tưởng định (cessation of perception and feeling / trạng thái dừng lại của cảm giác và nhận thức). Điều này có thể xảy ra. Nếu vị ấy không đạt được giác ngộ (enlightenment / sự tỉnh thức hoàn toàn) ngay trong đời này, thì sau khi vượt qua các chúng chư thiên còn ăn vật thực cứng (gods that consume solid food / các vị trời còn dùng thức ăn vật chất), vị ấy sẽ tái sinh vào một chúng chư thiên do tâm tạo (mind-made gods / các vị trời được tạo ra bởi tâm) nào đó. Tại đó, vị ấy có thể nhập và xuất diệt thọ tưởng định. Điều này có thể xảy ra."

Khi Tôn giả nói vậy, Tôn giả Ưu-đà-di nói với ngài: "Điều này không thể được, thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, điều này không thể xảy ra!"

Nhưng lần thứ hai... và lần thứ ba, Tôn giả Xá-lợi-phất lặp lại lời nói của mình.

Và lần thứ ba, Tôn giả Ưu-đà-di nói với ngài: “Điều này không thể được, thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, điều này không thể xảy ra!”

Lúc ấy, Tôn giả Xá-lợi-phất nghĩ: “Tôn giả Ưu-đà-di đã không đồng ý với ta đến ba lần, và không một Tỳ kheo nào tán thành với ta. Sao ta không đến gặp Đức Phật?”

Rồi Tôn giả Xá-lợi-phất đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và nói với các Tỳ kheo:

"Này chư Hiền, hãy xét một vị Tỳ kheo thành tựu về giới, định, và trí tuệ. Vị ấy có thể nhập và xuất diệt thọ tưởng định. Có khả năng như vậy. Nếu vị ấy không đạt được giác ngộ ngay trong đời này, vị ấy sẽ tái sinh vào chúng của một loài chư thiên do tâm tạo, đó là những vị vượt qua các chư thiên còn ăn vật thực cứng. Tại đó, vị ấy có thể nhập và xuất diệt thọ tưởng định. Điều này có thể xảy ra."

Khi Tôn giả nói vậy, Tôn giả Ưu-đà-di nói với ngài: “Điều này không thể được, thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, điều này không thể xảy ra!”

Nhưng lần thứ hai... và lần thứ ba, Tôn giả Xá-lợi-phất lặp lại lời nói của mình.

Và lần thứ ba, Tôn giả Ưu-đà-di nói với ngài: “Điều này không thể được, thưa Tôn giả Xá-lợi-phất, điều này không thể xảy ra!”

Lúc ấy, Tôn giả Xá-lợi-phất nghĩ: “Ngay cả trước mặt Đức Phật, Tôn giả Ưu-đà-di cũng không đồng ý với ta đến ba lần, và không một Tỳ kheo nào tán thành với ta. Tốt hơn hết là ta nên im lặng.” Rồi Tôn giả Xá-lợi-phất im lặng.

Bấy giờ Đức Phật nói với Tôn giả Ưu-đà-di: “Này Ưu-đà-di, ông có tin vào thân do tâm tạo không?”

“Thưa Thế Tôn, đối với những vị trời vô sắc (formless / không có hình tướng), do tưởng tạo thành (made of perception / được tạo ra bởi nhận thức) thì có.”

“Này Ưu-đà-di, một kẻ ngu si bất tài như ông thì có gì để nói chứ? Sao ông lại có thể tưởng rằng mình có điều gì đáng nói!”

Rồi Đức Phật nói với Tôn giả A-nan: “Này A-nan! Sao ông có thể chỉ đứng nhìn trong khi một vị Thượng tọa Tỳ kheo đang bị quấy rầy? Ông không có lòng bi mẫn nào đối với một vị Thượng tọa Tỳ kheo đang bị quấy rầy sao?”

Rồi Đức Phật nói với các Tỳ kheo:

"Này các Tỳ kheo, hãy xét một vị Tỳ kheo thành tựu về giới, định, và trí tuệ. Vị ấy có thể nhập và xuất diệt thọ tưởng định. Điều này có thể xảy ra. Nếu vị ấy không đạt được giác ngộ ngay trong đời này, vị ấy sẽ tái sinh vào chúng của một loài chư thiên do tâm tạo, đó là những vị vượt qua các chư thiên còn ăn vật thực cứng. Tại đó, vị ấy có thể nhập và xuất diệt thọ tưởng định. Điều này có thể xảy ra."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Sau khi nói xong, bậc Thánh đứng dậy khỏi chỗ ngồi và đi vào tịnh xá.

Sau đó, không lâu sau khi Đức Phật rời đi, Tôn giả A-nan đến gặp Tôn giả U-pa-va-na (Upavāna) và nói với ngài:

“Thưa Tôn giả U-pa-va-na, họ đã quấy rầy các vị Thượng tọa Tỳ kheo khác, nhưng tôi đã không chất vấn họ. Tôi sẽ không ngạc nhiên nếu Đức Phật đề cập đến chuyện này khi Ngài ra khỏi nơi nhập thất vào cuối buổi chiều nay. Ngài thậm chí có thể gọi chính Tôn giả U-pa-va-na. Và ngay lúc này tôi cảm thấy rụt rè.”

Rồi vào cuối buổi chiều, Đức Phật ra khỏi nơi nhập thất và đi đến giảng đường, nơi Ngài ngồi trên chỗ đã soạn sẵn, và nói với Tôn giả U-pa-va-na:

“Này U-pa-va-na, một vị Thượng tọa Tỳ kheo cần có bao nhiêu phẩm chất để được các bạn đồng tu quý mến và yêu thương, kính trọng và ngưỡng mộ?”

“Thưa Thế Tôn, một vị Thượng tọa Tỳ kheo có năm phẩm chất thì được các bạn đồng tu quý mến và yêu thương, kính trọng và ngưỡng mộ. Năm phẩm chất đó là gì?

Đó là khi một vị Tỳ kheo có đạo đức, sống chế ngự trong giới luật (monastic code / quy tắc tu viện), hành xử tốt đẹp và khất thực ở những nơi thích hợp. Thấy nguy hiểm trong lỗi nhỏ nhặt nhất, vị ấy giữ gìn các học giới đã thọ nhận.

Vị ấy là người học rộng, ghi nhớ và gìn giữ những gì đã học. Những giáo pháp này tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, và tốt đẹp ở đoạn cuối, có ý nghĩa và lời văn hay, mô tả một đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh. Vị ấy học rộng những giáo pháp như vậy, ghi nhớ chúng, tụng đọc chúng, quán xét chúng trong tâm, và thông hiểu chúng về mặt lý thuyết.

Vị ấy là người nói pháp hay, phát âm rõ ràng, với giọng nói trau chuốt, trong sáng, mạch lạc, diễn đạt được ý nghĩa.

Vị ấy chứng đắc bốn bậc thiền (absorptions / các tầng thiền định)—những trạng thái thiền định an lạc ngay trong đời này thuộc về tăng thượng tâm (higher mind / tâm cao thượng, tâm phát triển)—bất cứ khi nào muốn, không khó khăn, không trở ngại.

Vị ấy chứng ngộ tâm giải thoát (freedom of heart / sự giải thoát của tâm) và tuệ giải thoát (freedom by wisdom / sự giải thoát bằng trí tuệ) vô nhiễm ngay trong đời này. Và vị ấy an trú trong trạng thái đã chứng ngộ bằng chính trí tuệ của mình do sự đoạn trừ các lậu hoặc (defilements / những ô nhiễm tâm).

Một vị Thượng tọa Tỳ kheo có năm phẩm chất này thì được các bạn đồng tu quý mến và yêu thương, kính trọng và ngưỡng mộ.”

“Lành thay, lành thay, U-pa-va-na! Một vị Thượng tọa Tỳ kheo có năm phẩm chất này thì được các bạn đồng tu quý mến và yêu thương, kính trọng và ngưỡng mộ. Nếu năm phẩm chất này không được tìm thấy ở một vị Thượng tọa Tỳ kheo, tại sao các bạn đồng tu lại tôn kính, trọng vọng, quý mến hay sùng mộ vị ấy? Chỉ vì răng rụng, tóc bạc, da nhăn ư? Nhưng vì năm phẩm chất này được tìm thấy ở một vị Thượng tọa Tỳ kheo, nên các bạn đồng tu tôn kính, trọng vọng, quý mến và sùng mộ vị ấy.”

AN 5.167 Sự Khiển Trách Codanāsutta

Tại đó, Tôn giả Sāriputta nói với các Tỳ kheo: "Này chư Hiền, một vị Tỳ kheo muốn khiển trách người khác trước tiên nên tự mình thiết lập năm điều.

Năm điều gì? Ta sẽ nói đúng lúc, không nói sai lúc. Ta sẽ nói sự thật, không nói dối trá. Ta sẽ nói nhẹ nhàng, không nói gay gắt. Ta sẽ nói lời lợi ích, không nói lời gây hại. Ta sẽ nói với tâm từ, không nói với lòng căm ghét ngấm ngầm (secret hate / sự thù hận che giấu). Một vị Tỳ kheo muốn khiển trách người khác trước tiên nên tự mình thiết lập năm điều này.

Hãy xét trường hợp ta thấy một người nào đó bị khiển trách sai lúc, không bị phiền nhiễu đúng lúc. Họ bị khiển trách sai sự thật, không bị phiền nhiễu đúng sự thật. Họ bị khiển trách gay gắt, không bị phiền nhiễu nhẹ nhàng. Họ bị khiển trách có hại, không bị phiền nhiễu có lợi. Họ bị khiển trách với lòng căm ghét ngấm ngầm, không bị phiền nhiễu với tâm từ.

Vị Tỳ kheo bị khiển trách không đúng cách nên được trấn an bằng năm cách. 'Thưa Hiền giả, ngài bị khiển trách sai lúc, không phải đúng lúc. Ngài không cần phải cảm thấy hối hận. Ngài bị khiển trách sai sự thật, không phải đúng sự thật. ... Ngài bị khiển trách gay gắt, không phải nhẹ nhàng. ... Ngài bị khiển trách có hại, không phải có lợi. ... Ngài bị khiển trách với lòng căm ghét ngấm ngầm, không phải với tâm từ. Ngài không cần phải cảm thấy hối hận.' Một vị Tỳ kheo bị khiển trách không đúng cách nên được trấn an bằng năm cách này.

Vị Tỳ kheo khiển trách không đúng cách nên bị cảnh cáo bằng năm cách. 'Thưa Hiền giả, ngài đã khiển trách sai lúc, không phải đúng lúc. Có lý do để ngài cảm thấy hối hận. Ngài đã khiển trách sai sự thật, không phải đúng sự thật. ... Ngài đã khiển trách gay gắt, không phải nhẹ nhàng. ... Ngài đã khiển trách có hại, không phải có lợi. ... Ngài đã khiển trách với lòng căm ghét ngấm ngầm, không phải với tâm từ. Có lý do để ngài cảm thấy hối hận.' Vị Tỳ kheo khiển trách không đúng cách nên bị cảnh cáo bằng năm cách này. Tại sao vậy? Để vị Tỳ kheo khác không nghĩ đến việc khiển trách sai sự thật.

Hãy xét trường hợp ta thấy một người nào đó bị khiển trách đúng lúc, không bị phiền nhiễu sai lúc. Họ bị khiển trách đúng sự thật, không bị phiền nhiễu sai sự thật. Họ bị khiển trách nhẹ nhàng, không bị phiền nhiễu gay gắt. Họ bị khiển trách có lợi, không bị phiền nhiễu có hại. Họ bị khiển trách với tâm từ, không bị phiền nhiễu với lòng căm ghét ngấm ngầm.

Vị Tỳ kheo bị khiển trách đúng cách nên bị cảnh cáo bằng năm cách. 'Thưa Hiền giả, ngài bị khiển trách đúng lúc, không phải sai lúc. Có lý do để ngài cảm thấy hối hận. Ngài bị khiển trách đúng sự thật, không phải sai sự thật. ... Ngài bị khiển trách nhẹ nhàng, không phải gay gắt. ... Ngài bị khiển trách có lợi, không phải có hại. ... Ngài bị khiển trách với tâm từ, không phải với lòng căm ghét ngấm ngầm. Có lý do để ngài cảm thấy hối hận.' Vị Tỳ kheo bị khiển trách đúng cách nên bị cảnh cáo bằng năm cách này.

Vị Tỳ kheo khiển trách đúng cách nên được trấn an bằng năm cách. 'Thưa Hiền giả, ngài đã khiển trách đúng lúc, không phải sai lúc. Ngài không cần phải cảm thấy hối hận. Ngài đã khiển trách đúng sự thật, không phải sai sự thật. ... Ngài đã khiển trách nhẹ nhàng, không phải gay gắt. ... Ngài đã khiển trách có lợi, không phải có hại. ... Ngài đã khiển trách với tâm từ, không phải với lòng căm ghét ngấm ngầm. Ngài không cần phải cảm thấy hối hận.' Vị Tỳ kheo khiển trách đúng cách nên được trấn an bằng năm cách này. Tại sao vậy? Để vị Tỳ kheo khác nghĩ đến việc khiển trách đúng sự thật.

Người bị khiển trách nên tự mình vững chắc trong hai điều: sự thật và tâm bình tĩnh (even temper / trạng thái tâm không dao động). Ngay cả khi người khác khiển trách ta---đúng lúc hay sai lúc, đúng sự thật hay sai sự thật, nhẹ nhàng hay gay gắt, có lợi hay có hại, với tâm từ hay với lòng căm ghét ngấm ngầm---ta vẫn sẽ tự mình vững chắc trong hai điều: sự thật và tâm bình tĩnh. Nếu ta biết phẩm chất đó có trong ta, ta sẽ nói với họ là có. Nếu ta biết phẩm chất đó không có trong ta, ta sẽ nói với họ là không."

"Ngay cả khi ông nói như vậy, Sāriputta, vẫn có một số kẻ ngốc ở đây không kính cẩn tiếp thu."

"Thưa Ngài, có những người không có niềm tin (faithless / thiếu lòng tin) đã xuất gia (went forth from the lay life to homelessness / từ bỏ đời sống tại gia để sống không nhà) không phải vì niềm tin mà để kiếm sống. Họ quanh co, lừa lọc và lén lút. Họ bồn chồn lo lắng, xấc láo, hay thay đổi, thô tục và ăn nói bừa bãi. Họ không hộ trì các căn (guard their sense doors / kiểm soát các giác quan), không tiết độ trong ăn uống (eat in moderation / ăn uống có chừng mực), và không chuyên tâm vào sự tỉnh táo (wakefulness / trạng thái không mê mờ). Họ không quan tâm đến đời sống sa môn (ascetic life / đời sống của người tu hành), và không hết lòng tôn trọng việc tu tập (training / sự rèn luyện). Họ buông thả và lười biếng, dẫn đầu trong việc thoái lui, bỏ bê sự ẩn dật (seclusion / sống nơi yên tĩnh), lười biếng và thiếu siêng năng (energy / sự nỗ lực). Họ thiếu tỉnh thức (unmindful / không chú tâm), thiếu nhận thức tình huống (situational awareness / sự biết rõ hoàn cảnh) và định, với tâm lang thang, ngu độn và ngớ ngẩn. Khi con nói với họ như vậy, họ không kính cẩn tiếp thu.

Thưa Ngài, có những thiện nam tử đã xuất gia vì niềm tin. Họ không quanh co, lừa lọc và lén lút. Họ không bồn chồn lo lắng, xấc láo, hay thay đổi, thô tục và ăn nói bừa bãi. Họ hộ trì các căn, tiết độ trong ăn uống, và chuyên tâm vào sự tỉnh táo. Họ quan tâm đến đời sống sa môn, và hết lòng tôn trọng việc tu tập. Họ không buông thả hay lười biếng, cũng không dẫn đầu trong việc thoái lui, bỏ bê sự ẩn dật. Họ siêng năng và quyết tâm. Họ tỉnh thức (mindful / chú tâm), có nhận thức tình huống, định, và tâm hợp nhất (unified minds / tâm không phân tán); có trí tuệ (wise / hiểu biết đúng đắn) và khôn khéo. Khi con nói với họ như vậy, họ kính cẩn tiếp thu."

"Sāriputta, những người không có niềm tin đã xuất gia không phải vì niềm tin mà để kiếm sống... Hãy mặc kệ họ.

Nhưng những thiện nam tử đã xuất gia vì niềm tin... Ông nên nói chuyện với họ. Sāriputta, ông nên khuyên bảo các bạn đồng tu của mình! Ông nên hướng dẫn các bạn đồng tu của mình! Nghĩ rằng: 'Ta sẽ kéo các bạn đồng tu của ta ra khỏi tà giáo (false teachings / những lời dạy sai lầm) và giúp họ vững chắc trong chánh giáo (true teachings / những lời dạy đúng đắn).' Đó là cách ông nên tu tập."

AN 5.168 Giới Hạnh Sīlasutta

Tại đó, Tôn giả Sāriputta nói với các Tỳ kheo:

"Này chư Hiền, người không có giới hạnh, thiếu giới hạnh, đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho chánh định (right immersion / sự tập trung tâm đúng đắn). Khi không có chánh định, người thiếu chánh định đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho chánh tri kiến (true knowledge and vision / sự thấy biết chân chính). Khi không có chánh tri kiến, người thiếu chánh tri kiến đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho sự nhàm chán và ly tham (disillusionment and dispassion / sự désenchantement và không còn ham muốn). Khi không có sự nhàm chán và ly tham, người thiếu sự nhàm chán và ly tham đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho tri kiến giải thoát.

Ví như có một cái cây thiếu cành và lá. Chồi, vỏ, giác cây và lõi cây của nó sẽ không phát triển đầy đủ.

Cũng vậy, người không có giới hạnh, thiếu giới hạnh, đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho chánh định. Khi không có chánh định, người thiếu chánh định đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho chánh tri kiến. Khi không có chánh tri kiến, người thiếu chánh tri kiến đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho sự nhàm chán và ly tham. Khi không có sự nhàm chán và ly tham, người thiếu sự nhàm chán và ly tham đã phá hủy một điều kiện thiết yếu cho tri kiến giải thoát.

Người có giới hạnh, đã hoàn thiện giới hạnh, đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho chánh định. Khi có chánh định, người đã hoàn thiện chánh định đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho chánh tri kiến. Khi có chánh tri kiến, người đã hoàn thiện chánh tri kiến đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho sự nhàm chán và ly tham. Khi có sự nhàm chán và ly tham, người đã hoàn thiện sự nhàm chán và ly tham đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho tri kiến giải thoát.

Ví như có một cái cây đầy đủ cành và lá. Chồi, vỏ, giác cây và lõi cây của nó sẽ phát triển đầy đủ. Cũng vậy, người có giới hạnh, đã hoàn thiện giới hạnh, đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho chánh định.

Khi có chánh định, người đã hoàn thiện chánh định đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho chánh tri kiến. Khi có chánh tri kiến, người đã hoàn thiện chánh tri kiến đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho sự nhàm chán và ly tham. Khi có sự nhàm chán và ly tham, người đã hoàn thiện sự nhàm chán và ly tham đã hoàn thiện một điều kiện thiết yếu cho tri kiến giải thoát."

AN 5.169 Nhanh Trí Khippanisantisutta

Khi đó, Tôn giả Ānanda đến gặp Tôn giả Sāriputta và chào hỏi ngài. Sau khi chào hỏi và nói chuyện thân mật xong, ngài ngồi xuống một bên và nói với Tôn giả Sāriputta:

"Thưa Hiền giả Sāriputta, làm thế nào để chúng ta định nghĩa một vị Tỳ kheo nhanh trí đối với các pháp thiện (skillful teachings / những lời dạy hữu ích, đúng đắn), người học tốt, học nhiều và không quên những gì đã học?"

"Này, Hiền giả Ānanda, ngài rất đa văn. Sao ngài không tự mình làm rõ điều này?"

"Vậy thì, thưa Hiền giả Sāriputta, xin hãy lắng nghe và chú tâm kỹ (apply your mind well / tập trung lắng nghe và suy nghĩ), tôi sẽ nói."

"Vâng, thưa Hiền giả," Tôn giả Sāriputta đáp. Tôn giả Ānanda nói:

"Đó là khi một vị Tỳ kheo thông thạo về ý nghĩa (skilled in the meaning / hiểu rõ nội dung), thông thạo về pháp (skilled in the teaching / hiểu rõ lời dạy), thông thạo về thuật ngữ (skilled in terminology / hiểu rõ từ ngữ chuyên môn), thông thạo về văn cú (skilled in phrasing / hiểu rõ cách diễn đạt), và thông thạo về thứ lớp (skilled in sequence / hiểu rõ trình tự). Đó là cách định nghĩa một vị Tỳ kheo nhanh trí đối với các pháp thiện, người học tốt, học nhiều và không quên những gì đã học."

"Thật phi thường, thật kỳ diệu! Tôn giả Ānanda đã nói điều này thật hay! Và chúng ta sẽ nhớ đến Tôn giả Ānanda là người có năm phẩm chất này: 'Hiền giả Ānanda thông thạo về ý nghĩa, thông thạo về pháp, thông thạo về thuật ngữ, thông thạo về văn cú, và thông thạo về thứ lớp.'"

AN 5.170 Với Bhaddaji Bhaddajisutta

Một thời, Tôn giả Ānanda đang ở gần Kosambī, tại Tu viện Ghosita. Khi đó, Tôn giả Bhaddaji đến gặp Tôn giả Ānanda và chào hỏi ngài. Sau khi chào hỏi và nói chuyện thân mật xong, ngài ngồi xuống một bên, và Tôn giả Ānanda nói với ngài:

"Thưa Hiền giả Bhaddaji, cái thấy tốt đẹp nhất, âm thanh tốt đẹp nhất, sự an vui tốt đẹp nhất, nhận thức tốt đẹp nhất, và trạng thái tồn tại tốt đẹp nhất là gì?"

"Thưa Hiền giả, có vị Thần linh (Divinity / đấng tối cao) này, đấng chiến thắng, đấng bất khả chiến bại, đấng thấy biết tất cả, đấng nắm giữ quyền năng. Khi ngài thấy vị Thần linh đó, đó là cái thấy tốt đẹp nhất. Có những vị trời tên là 'Quang Âm Thiên' (gods called 'of streaming radiance' / cõi trời Ánh Sáng Tuôn Chảy, một cõi trời trong Sắc giới), họ đắm chìm và thấm nhuần trong lạc thú. Thỉnh thoảng họ cảm thấy hứng khởi mà thốt lên: 'Ôi, thật phúc lạc! Ôi, thật phúc lạc!' Khi ngài nghe điều đó, đó là âm thanh tốt đẹp nhất. Có những vị trời tên là 'Biến Tịnh Thiên' (gods called 'of universal beauty' / cõi trời Vẻ Đẹp Toàn Khắp, một cõi trời trong Sắc giới). Vì họ thực sự mãn nguyện, họ trải nghiệm lạc thú. Đây là sự an vui tốt đẹp nhất. Có những vị trời tái sinh vào Vô Sở Hữu Xứ (dimension of nothingness / cõi không có gì, một cõi trời trong Vô Sắc giới). Đây là nhận thức tốt đẹp nhất. Có những vị trời tái sinh vào Phi Tưởng Phi Phi Tưởng Xứ (dimension of neither perception nor non-perception / cõi không phải nhận thức cũng không phải không nhận thức, cõi trời cao nhất trong Vô Sắc giới). Đây là trạng thái tồn tại tốt đẹp nhất."

"Vậy, thưa Hiền giả Bhaddaji, ngài có đồng ý với những gì hầu hết mọi người nói về điều này không?"

"Này, Hiền giả Ānanda, ngài rất đa văn. Sao ngài không tự mình làm rõ điều này?"

"Vậy thì, thưa Hiền giả Bhaddaji, xin hãy lắng nghe và chú tâm kỹ, tôi sẽ nói."

"Vâng, thưa Hiền giả," Tôn giả Bhaddaji đáp. Tôn giả Ānanda nói:

"Cái thấy khi các phiền não chấm dứt trong đời này là cái thấy tốt đẹp nhất. Âm thanh nghe được khi các phiền não chấm dứt trong đời này là âm thanh tốt đẹp nhất. Sự an vui cảm nhận được khi các phiền não chấm dứt trong đời này là sự an vui tốt đẹp nhất. Nhận thức có được khi các phiền não chấm dứt trong đời này là nhận thức tốt đẹp nhất. Trạng thái tồn tại trong đó các phiền não chấm dứt trong đời này là trạng thái tồn tại tốt đẹp nhất."