Skip to content

Phẩm Về Vô Thượng

AN 6.21 Tại Làng Sāma Kinh Sāmaka

Một thời Đức Phật trú ở xứ của những người Sakya, gần ngôi làng nhỏ Sāma, bên một hồ sen.

Khi ấy, vào lúc đêm khuya, một vị thiên quang sắc rực rỡ, chiếu sáng toàn bộ hồ sen, đi đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ, đứng sang một bên, và bạch với Ngài: "Thưa Ngài, có ba pháp đưa đến sự suy thoái của một vị khất sĩ (mendicant / người tu sĩ sống bằng khất thực). Ba pháp ấy là gì? Thích thú công việc, nói chuyện, và ngủ nghỉ. Ba pháp này đưa đến sự suy thoái của một vị khất sĩ."

Vị thiên ấy nói như vậy, và bậc Đạo Sư chấp thuận. Khi ấy, vị thiên đó, biết rằng bậc Đạo Sư đã chấp thuận, liền đảnh lễ, đi quanh Đức Phật theo chiều bên phải rồi biến mất ngay tại chỗ.

Rồi khi đêm đã tàn, Đức Phật kể lại cho các vị khất sĩ tất cả những gì đã xảy ra, và nói thêm:

"Thật không may cho các vị mà ngay cả chư thiên cũng biết là đang suy thoái trong các thiện pháp (skillful qualities / các phẩm chất tốt đẹp). Ta sẽ dạy cho các vị thêm ba pháp nữa đưa đến sự suy thoái. Hãy lắng nghe và khéo tác ý, Ta sẽ nói."

"Vâng, thưa Ngài," họ đáp. Đức Phật nói điều này:

"Và này các vị khất sĩ, ba pháp nào đưa đến sự suy thoái? Thích thú hội chúng, khó được khuyên bảo, và có bạn bè xấu ác. Ba pháp này đưa đến sự suy thoái.

Dù trong quá khứ, tương lai, hay hiện tại, tất cả những ai suy thoái trong các thiện pháp đều do sáu pháp này."

AN 6.22 Không Suy Thoái Kinh Aparihāniya

"Này các vị khất sĩ, Ta sẽ dạy các vị sáu pháp này để ngăn ngừa sự suy thoái. ... Và này các vị khất sĩ, sáu pháp nào ngăn ngừa sự suy thoái? Không thích thú công việc, nói chuyện, ngủ nghỉ, và hội chúng, dễ được khuyên bảo, và có bạn bè tốt lành. Sáu pháp này ngăn ngừa sự suy thoái.

Dù trong quá khứ, tương lai, hay hiện tại, tất cả những ai không suy thoái trong các thiện pháp đều do sáu pháp này."

AN 6.23 Nguy Hiểm Kinh Bhaya

"'Nguy hiểm', này các vị khất sĩ, là một thuật ngữ chỉ các dục lạc (sensual pleasures / niềm vui thú giác quan). 'Khổ đau', 'bệnh tật', 'ung nhọt', 'cạm bẫy', và 'vũng lầy' là những thuật ngữ chỉ các dục lạc.

Và tại sao 'nguy hiểm' là một thuật ngữ chỉ các dục lạc? Người nào say đắm trong tham dục (sensual greed / lòng tham ái dục lạc) và bị trói buộc bởi ái dục (lustful desire / ham muốn tình dục, ham muốn giác quan) thì không được giải thoát khỏi những nguy hiểm trong đời này hay trong các đời sau. Đó là lý do tại sao 'nguy hiểm' là một thuật ngữ chỉ các dục lạc.

Và tại sao 'khổ đau', 'bệnh tật', 'ung nhọt', 'cạm bẫy', và 'vũng lầy' là những thuật ngữ chỉ các dục lạc? Người nào say đắm trong tham dục và bị trói buộc bởi ái dục thì không được giải thoát khỏi khổ đau, bệnh tật, ung nhọt, xiềng xích, hay vũng lầy trong đời này hay trong các đời sau. Đó là lý do tại sao những từ này là thuật ngữ chỉ các dục lạc.

Nguy hiểm, khổ đau, bệnh tật, ung nhọt,
Cả cạm bẫy và vũng lầy.
Những từ này mô tả dục lạc
Mà kẻ phàm phu thường đắm nhiễm.

Thấy nguy hiểm trong chấp thủ (grasping / sự bám víu, níu giữ),
Nguồn gốc của sinh tử (birth and death / vòng luân hồi sinh ra và chết đi),
Người không chấp thủ được giải thoát
Khi sinh tử chấm dứt.

Hạnh phúc, họ đến nơi an ổn,
Tịch tịnh (quenched / sự dập tắt phiền não, Niết-bàn) ngay trong đời này.
Họ đã vượt qua mọi hiểm nguy, đe dọa,
Và vượt lên trên mọi khổ đau."

AN 6.24 Núi Himalaya Kinh Himavanta

"Này các vị khất sĩ, một vị khất sĩ có sáu pháp có thể làm tan vỡ Hy Mã Lạp Sơn, vua của các loài núi, huống nữa là cái vô minh (ignorance / sự thiếu hiểu biết về Tứ Thánh Đế) khốn khổ này! Sáu pháp ấy là gì? Đó là khi một vị khất sĩ thiện xảo trong việc nhập thiền định (immersion / sự nhập định, trạng thái tâm tập trung cao độ), thiện xảo trong việc an trú thiền định, thiện xảo trong việc xuất thiền định, thiện xảo trong việc làm tâm hoan hỷ để nhập thiền định, thiện xảo trong các đề mục thiền (meditation subjects / đối tượng để thiền quán) định, và thiện xảo trong việc phóng tâm đã được thanh lọc bởi thiền định. Một vị khất sĩ có sáu pháp này có thể làm tan vỡ Hy Mã Lạp Sơn, vua của các loài núi, huống nữa là cái vô minh khốn khổ này!"

AN 6.25 Các Đề Mục Cần Phải Nhớ Kinh Anussatiṭṭhāna

"Này các vị khất sĩ, có sáu đề mục cần phải nhớ (topics for recollection / những đối tượng cần ghi nhớ, quán niệm) này. Sáu đề mục ấy là gì?

Thứ nhất, một thánh đệ tử (noble disciple / người đệ tử đã chứng đắc các đạo quả) cần phải nhớ đến bậc Như Lai (Realized One / người đã đạt đến chân lý, danh hiệu của Đức Phật): 'Đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán (perfected / người đã hoàn thiện tu tập, diệt hết phiền não), bậc Chánh Đẳng Giác (fully awakened Buddha / người tự mình giác ngộ hoàn toàn), minh hạnh túc (accomplished in knowledge and conduct / đầy đủ trí tuệ và đức hạnh), bậc Thiện Thệ (holy / người đã đi đến nơi tốt đẹp, Niết-bàn), bậc Thế Gian Giải (knower of the world / người hiểu biết thế gian), bậc Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu (supreme guide for those who wish to train / người cao nhất có khả năng dẫn dắt chúng sinh cần được huấn luyện), bậc Thiên Nhân Sư (teacher of gods and humans / thầy của trời và người), bậc Phật (awakened / người đã giác ngộ), bậc Thế Tôn (blessed / người được tôn kính nhất trên đời).' Khi một thánh đệ tử cần phải nhớ đến bậc Như Lai, tâm vị ấy không tràn đầy tham (greed / lòng tham), sân (hate / lòng căm ghét, tức giận), và si (delusion / sự mê lầm, không sáng suốt). Lúc ấy, tâm vị ấy không dao động. Vị ấy đã từ bỏ tham; vị ấy thoát khỏi nó và vượt lên trên nó. 'Tham' là một thuật ngữ chỉ năm dục (five kinds of sensual stimulation / năm đối tượng của giác quan: sắc, thanh, hương, vị, xúc). Nương vào đây, một số chúng sinh (sentient beings / các loài hữu tình) được thanh tịnh theo cách này.

Lại nữa, một thánh đệ tử cần phải nhớ đến Pháp (teaching / lời dạy của Đức Phật): 'Pháp được Đức Phật khéo giảng dạy---thiết thực hiện tại (apparent in the present life / có thể thấy rõ trong đời này), không có thời gian (immediately effective / có kết quả tức thì), đến để mà thấy (inviting inspection / mời gọi đến để tự mình kiểm chứng), hướng thượng (relevant / có khả năng dẫn dắt đến sự tiến bộ), để người trí tự mình giác hiểu (sensible people can know it for themselves / người có trí tuệ có thể tự mình hiểu rõ).' Khi một thánh đệ tử cần phải nhớ đến Pháp, tâm vị ấy không tràn đầy tham, sân, và si. ...

Lại nữa, một thánh đệ tử cần phải nhớ đến Tăng đoàn (Saṅgha / cộng đồng các vị xuất gia đệ tử Phật): 'Tăng đoàn các đệ tử của Đức Phật là những người thực hành con đường diệu hạnh (practicing the way that's good / thực hành con đường tốt đẹp), trực hạnh (direct / thực hành con đường thẳng), như lý hạnh (systematic / thực hành con đường đúng đắn), và chánh hạnh (proper / thực hành con đường chân chính). Tăng đoàn ấy bao gồm bốn đôi tám chúng (four pairs, the eight individuals / bốn cặp thánh nhân và tám hạng cá nhân thánh). Đây là Tăng đoàn các đệ tử của Đức Phật, đáng được cúng dường (worthy of offerings dedicated to the gods / xứng đáng nhận vật phẩm dâng cúng), đáng được tôn kính (worthy of hospitality / xứng đáng được tiếp đón trọng thị), đáng được bố thí (worthy of a religious donation / xứng đáng nhận sự cúng dường), đáng được chắp tay (worthy of greeting with joined palms / xứng đáng được kính lễ), và là ruộng phước vô thượng ở đời (supreme field of merit for the world / nơi gieo trồng phước báu tốt nhất trên thế gian).' Khi một thánh đệ tử cần phải nhớ đến Tăng đoàn, tâm vị ấy không tràn đầy tham, sân, và si. ...

Lại nữa, một thánh đệ tử cần phải nhớ đến giới (ethical precepts / các quy tắc đạo đức) của chính mình, những giới luật không bị bể vụn (intact / không bị vi phạm), không bị sứt mẻ (impeccable / không có lỗi lầm), không bị vết chấm (spotless / trong sạch), và không bị ô nhiễm (unmarred / không bị làm hoen ố), đưa đến giải thoát (liberating / giúp giải thoát), được người trí tán thán (praised by sensible people / được người có trí tuệ khen ngợi), không bị chấp thủ (not mistaken / không bị bám víu sai lầm), và đưa đến thiền định (leading to immersion / giúp đạt được sự tập trung tâm). Khi một thánh đệ tử cần phải nhớ đến giới của mình, tâm vị ấy không tràn đầy tham, sân, và si. ...

Lại nữa, một thánh đệ tử cần phải nhớ đến sự bố thí (generosity / sự cho đi) của chính mình: 'Thật may mắn cho ta, thật vô cùng may mắn! Giữa những người đầy cấu uế của xan tham (stain of stinginess / sự ô nhiễm của lòng keo kiệt), ta sống tại gia thoát khỏi cấu uế của xan tham, xả thí không giới hạn (freely generous / cho đi rộng rãi), bàn tay rộng mở (open-handed / sẵn lòng cho đi), ưa thích từ bỏ (loving to let go / thích buông xả), vui thích san sẻ (committed to charity / vui vẻ trong việc chia sẻ), ưa thích cho và chia (loving to give and to share / thích cho đi và chia sẻ).' Khi một thánh đệ tử cần phải nhớ đến sự bố thí của mình, tâm vị ấy không tràn đầy tham, sân, và si. ...

Lại nữa, một thánh đệ tử cần phải nhớ đến chư thiên (deities / các vị trời): 'Có chư thiên Tứ Đại Thiên Vương (gods of the four great kings / các vị trời ở cõi Tứ Thiên Vương), chư thiên cõi Ba Mươi Ba (gods of the thirty-three / các vị trời ở cõi Đao Lợi), chư thiên Dạ Ma (gods of Yama / các vị trời ở cõi Dạ Ma), chư thiên Đâu Suất (joyful gods / các vị trời ở cõi Đâu Suất), chư thiên Hóa Lạc (gods who love to imagine / các vị trời thích sáng tạo), chư thiên Tha Hóa Tự Tại (gods who control what is imagined by others / các vị trời làm chủ sự sáng tạo của người khác), chư thiên Phạm Chúng (gods of the Divinity's host / các vị trời thuộc cõi Phạm Thiên), và các vị trời còn cao hơn nữa. Khi các vị thiên ấy mệnh chung từ đây, họ được tái sinh ở đó là nhờ niềm tin (faith / lòng tin vào Tam Bảo), giới, văn (learning / sự học hỏi giáo pháp), bố thí, và trí tuệ (wisdom / sự hiểu biết đúng đắn) của họ. Ta cũng có cùng loại niềm tin, giới, văn, bố thí, và trí tuệ như vậy.'

Khi một thánh đệ tử cần phải nhớ đến niềm tin, giới, văn, bố thí, và trí tuệ của cả bản thân và chư thiên, tâm vị ấy không tràn đầy tham, sân, và si. Lúc ấy, tâm vị ấy không dao động. Vị ấy đã từ bỏ tham; vị ấy thoát khỏi nó và vượt lên trên nó. 'Tham' là một thuật ngữ chỉ năm dục. Nương vào đây, một số chúng sinh được thanh tịnh theo cách này.

Đây là sáu đề mục cần phải nhớ."

AN 6.26 Với Đại Kaccāna Kinh Mahākaccāna

Tại đó, Đại Kaccāna nói với các vị khất sĩ: "Thưa các Hiền giả, các vị khất sĩ!"

"Thưa Hiền giả," họ đáp. Tôn giả Đại Kaccāna nói điều này:

"Thật vi diệu, thưa các Hiền giả, thật kỳ diệu! Làm sao mà Đức Thế Tôn, bậc biết và thấy, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, đã tìm ra lối thoát giữa nơi tù túng (opening amid confinement / con đường giải thoát khỏi khổ đau); đó là, sáu đề mục cần phải nhớ. Chúng nhằm để thanh lọc chúng sinh, vượt qua sầu và bi (sorrow and crying / nỗi buồn và khóc lóc), chấm dứt khổ và ưu (pain and sadness / sự đau khổ và buồn rầu), chứng đạt chánh lý (discover the system / hiểu và đạt được chân lý), và chứng ngộ Niết-bàn (realize extinguishment / đạt được sự dập tắt phiền não). Sáu đề mục ấy là gì?

Thứ nhất, một thánh đệ tử cần phải nhớ đến bậc Như Lai: 'Đức Thế Tôn ấy là bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, minh hạnh túc, bậc Thiện Thệ, bậc Thế Gian Giải, bậc Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu, bậc Thiên Nhân Sư, bậc Phật, bậc Thế Tôn.' Khi một thánh đệ tử cần phải nhớ đến bậc Như Lai, tâm vị ấy không tràn đầy tham, sân, và si. Lúc ấy, tâm vị ấy không dao động. Vị ấy đã từ bỏ tham; vị ấy thoát khỏi nó và vượt lên trên nó. 'Tham' là một thuật ngữ chỉ năm dục. Thánh đệ tử ấy thiền quán với tâm như hư không (heart just like space / tâm rộng lớn như không gian), quảng đại (abundant / rộng lớn), vô biên (expansive / không giới hạn), vô lượng (limitless / không thể đo lường), không oan trái (free of enmity / không có sự thù địch) và không có tức giận (ill will / lòng căm ghét, tức giận). Nương vào đây, một số chúng sinh trở nên thanh tịnh theo cách này.

Lại nữa, một thánh đệ tử cần phải nhớ đến Pháp: 'Pháp được Đức Phật khéo giảng dạy---thiết thực hiện tại, không có thời gian, đến để mà thấy, hướng thượng, để người trí tự mình giác hiểu.' Khi một thánh đệ tử cần phải nhớ đến Pháp, tâm vị ấy không tràn đầy tham, sân, và si. ...

Lại nữa, một thánh đệ tử cần phải nhớ đến Tăng đoàn: 'Tăng đoàn các đệ tử của Đức Phật là những người thực hành con đường diệu hạnh, trực hạnh, như lý hạnh, và chánh hạnh. Tăng đoàn ấy bao gồm bốn đôi tám chúng. Đây là Tăng đoàn các đệ tử của Đức Phật, đáng được cúng dường, đáng được tôn kính, đáng được bố thí, đáng được chắp tay, và là ruộng phước vô thượng ở đời.' Khi một thánh đệ tử cần phải nhớ đến Tăng đoàn, tâm vị ấy không tràn đầy tham, sân, và si. ...

Lại nữa, một thánh đệ tử cần phải nhớ đến giới của chính mình, những giới luật không bị bể vụn, không bị sứt mẻ, không bị vết chấm, và không bị ô nhiễm, đưa đến giải thoát, được người trí tán thán, không bị chấp thủ, và đưa đến thiền định. Khi một thánh đệ tử cần phải nhớ đến giới của mình, tâm vị ấy không tràn đầy tham, sân, và si. ...

Lại nữa, một thánh đệ tử cần phải nhớ đến sự bố thí của chính mình: 'Thật may mắn cho ta, thật vô cùng may mắn! Giữa những người đầy cấu uế của xan tham, ta sống tại gia thoát khỏi cấu uế của xan tham, xả thí không giới hạn, bàn tay rộng mở, ưa thích từ bỏ, vui thích san sẻ, ưa thích cho và chia.' Khi một thánh đệ tử cần phải nhớ đến sự bố thí của mình, tâm vị ấy không tràn đầy tham, sân, và si. ...

Lại nữa, một thánh đệ tử cần phải nhớ đến chư thiên: 'Có chư thiên Tứ Đại Thiên Vương, chư thiên cõi Ba Mươi Ba, chư thiên Dạ Ma, chư thiên Đâu Suất, chư thiên Hóa Lạc, chư thiên Tha Hóa Tự Tại, chư thiên Phạm Chúng, và các vị trời còn cao hơn nữa. Khi các vị thiên ấy mệnh chung từ đây, họ được tái sinh ở đó là nhờ niềm tin, giới, văn, bố thí, và trí tuệ của họ. Ta cũng có cùng loại niềm tin, giới, văn, bố thí, và trí tuệ như vậy.' Khi một thánh đệ tử cần phải nhớ đến niềm tin, giới, văn, bố thí, và trí tuệ của cả bản thân và chư thiên, tâm vị ấy không tràn đầy tham, sân, và si. Lúc ấy, tâm vị ấy không dao động. Vị ấy đã từ bỏ tham; vị ấy thoát khỏi nó và vượt lên trên nó. 'Tham' là một thuật ngữ chỉ năm dục. Thánh đệ tử ấy thiền quán với tâm như hư không, quảng đại, vô biên, vô lượng, không oan trái và không có tức giận. Nương vào đây, một số chúng sinh trở nên thanh tịnh theo cách này.

Thật vi diệu, thưa các Hiền giả, thật kỳ diệu! Làm sao mà Đức Thế Tôn, bậc biết và thấy, bậc A-la-hán, bậc Chánh Đẳng Giác, đã tìm ra lối thoát giữa nơi tù túng; đó là, sáu đề mục cần phải nhớ. Chúng nhằm để thanh lọc chúng sinh, vượt qua sầu và bi, chấm dứt khổ và ưu, chứng đạt chánh lý, và chứng ngộ Niết-bàn."

AN 6.27 Những Dịp Thích Hợp (1) Kinh Paṭhamasamaya

Khi ấy, một vị khất sĩ đi đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và bạch với Ngài:

"Thưa Ngài, có bao nhiêu dịp thích hợp để đến gặp một vị khất sĩ đáng kính (esteemed mendicant / vị tu sĩ được tôn trọng)?"

"Này vị khất sĩ, có sáu dịp thích hợp để đến gặp một vị khất sĩ đáng kính. Sáu dịp ấy là gì?

Thứ nhất, có lúc tâm của một vị khất sĩ bị dục tham (sensual desire / lòng ham muốn dục lạc) xâm chiếm và nhấn chìm, và vị ấy không thực sự hiểu rõ sự xuất ly (escape / sự thoát ra khỏi) khỏi dục tham đã khởi lên. Vào dịp đó, vị ấy nên đến gặp một vị khất sĩ đáng kính và nói: 'Tâm con bị dục tham xâm chiếm và nhấn chìm, và con không thực sự hiểu rõ sự xuất ly khỏi dục tham đã khởi lên. Kính bạch Tôn giả, xin hãy dạy con cách từ bỏ dục tham.' Khi ấy, vị khất sĩ đáng kính đó dạy vị ấy cách từ bỏ dục tham. Đây là dịp thích hợp thứ nhất để đến gặp một vị khất sĩ đáng kính.

Lại nữa, có lúc tâm của một vị khất sĩ bị tức giận xâm chiếm và nhấn chìm ... Đây là dịp thích hợp thứ hai để đến gặp một vị khất sĩ đáng kính.

Lại nữa, có lúc tâm của một vị khất sĩ bị uể oải sao nhãng và buồn ngủ (dullness and drowsiness / sự buồn ngủ và tâm trí lờ đờ) xâm chiếm và nhấn chìm ... Đây là dịp thích hợp thứ ba để đến gặp một vị khất sĩ đáng kính.

Lại nữa, có lúc tâm của một vị khất sĩ bị bồn chồn lo lắng và hối hận (restlessness and remorse / bồn chồn và hối hận) xâm chiếm và nhấn chìm ... Đây là dịp thích hợp thứ tư để đến gặp một vị khất sĩ đáng kính.

Lại nữa, có lúc tâm của một vị khất sĩ bị nghi (doubt / sự hoài nghi) xâm chiếm và nhấn chìm ... Đây là dịp thích hợp thứ năm để đến gặp một vị khất sĩ đáng kính.

Lại nữa, có lúc một vị khất sĩ không hiểu cần phải chú tâm vào loại thiền định nào để đoạn trừ các lậu hoặc (defilements / những phiền não làm ô nhiễm tâm) ngay trong đời này. Vào dịp đó, vị ấy nên đến gặp một vị khất sĩ đáng kính và nói: 'Con không hiểu cần phải chú tâm vào loại thiền định nào để đoạn trừ các lậu hoặc ngay trong đời này. Kính bạch Tôn giả, xin hãy dạy con cách đoạn trừ các lậu hoặc.' Khi ấy, vị khất sĩ đáng kính đó dạy vị ấy cách đoạn trừ các lậu hoặc. Đây là dịp thích hợp thứ sáu để đến gặp một vị khất sĩ đáng kính.

Đây là sáu dịp thích hợp để đến gặp một vị khất sĩ đáng kính."

AN 6.28 Những Dịp Thích Hợp (2) Kinh Dutiyasamaya

Một thời, nhiều vị trưởng lão khất sĩ đang trú gần Varanasi, tại Vườn Nai ở Isipatana. Sau bữa ăn, khi đi khất thực về, cuộc thảo luận này đã nảy sinh giữa họ khi đang ngồi cùng nhau trong nhà hội.

"Thưa các Hiền giả, có bao nhiêu dịp thích hợp để đến gặp một vị khất sĩ đáng kính?"

Khi được hỏi như vậy, một trong các vị khất sĩ nói với các vị trưởng lão:

"Thưa các Hiền giả, có một thời điểm sau bữa ăn của vị khất sĩ đáng kính, khi vị ấy trở về từ khất thực. Sau khi rửa chân, vị ấy ngồi kiết già, giữ thân thẳng, và an trú tỉnh thức (mindfulness / sự chú tâm, nhận biết rõ ràng) trước mặt. Đó là dịp thích hợp để đến gặp một vị khất sĩ đáng kính."

Khi được nói như vậy, một trong các vị khất sĩ nói với vị khất sĩ kia:

"Thưa Hiền giả, đó không phải là dịp thích hợp để đến gặp một vị khất sĩ đáng kính. Vì lúc đó, sự mệt mỏi do đi lại và ăn uống vẫn chưa tan biến. Có một thời điểm vào cuối buổi chiều khi một vị khất sĩ đáng kính ra khỏi nhập thất (retreat / thời gian tu tập chuyên sâu, tách biệt). Vị ấy ngồi kiết già dưới bóng hiên nhà, giữ thân thẳng, và an trú tỉnh thức trước mặt. Đó là dịp thích hợp để đến gặp một vị khất sĩ đáng kính."

Khi được nói như vậy, một trong các vị khất sĩ nói với vị khất sĩ kia:

"Thưa Hiền giả, đó không phải là dịp thích hợp để đến gặp một vị khất sĩ đáng kính. Vì lúc đó, vị ấy vẫn đang thực hành cùng một đề mục thiền định căn bản (meditation subject as a basis of immersion / đối tượng thiền chính đã thực hành) mà vị ấy đã chú tâm vào ban ngày. Có một thời điểm khi một vị khất sĩ đáng kính thức dậy vào lúc rạng đông. Vị ấy ngồi kiết già, giữ thân thẳng, và an trú tỉnh thức trước mặt. Đó là dịp thích hợp để đến gặp một vị khất sĩ đáng kính."

Khi được nói như vậy, một trong các vị khất sĩ nói với vị khất sĩ kia:

"Thưa Hiền giả, đó không phải là dịp thích hợp để đến gặp một vị khất sĩ đáng kính. Vì lúc đó, thân thể vị ấy đầy sinh lực (vitality / năng lượng sống) và vị ấy dễ dàng chú tâm vào lời Phật dạy (instructions of the Buddhas / giáo lý của các Đức Phật)."

Khi được nói như vậy, Tôn giả Đại Kaccāna nói với các vị trưởng lão khất sĩ:

"Thưa các Hiền giả, tôi đã nghe và học điều này từ nơi Đức Phật: 'Này các vị khất sĩ, có sáu dịp thích hợp để đến gặp một vị khất sĩ đáng kính.

Sáu dịp ấy là gì? Thứ nhất, có lúc tâm của một vị khất sĩ bị dục tham xâm chiếm và nhấn chìm, và vị ấy không thực sự hiểu rõ sự xuất ly khỏi dục tham đã khởi lên. Vào dịp đó, vị ấy nên đến gặp một vị khất sĩ đáng kính và nói:

"Tâm con bị dục tham xâm chiếm và nhấn chìm, và con không thực sự hiểu rõ sự xuất ly khỏi dục tham đã khởi lên. Kính bạch Tôn giả, xin hãy dạy con cách từ bỏ dục tham." Khi ấy, vị khất sĩ đáng kính đó dạy vị ấy cách từ bỏ dục tham. Đây là dịp thích hợp thứ nhất để đến gặp một vị khất sĩ đáng kính.

Lại nữa, có lúc tâm của một vị khất sĩ bị tức giận xâm chiếm và nhấn chìm ... uể oải sao nhãng và buồn ngủ ... bồn chồn lo lắng và hối hận ... nghi ...

Lại nữa, có lúc một vị khất sĩ không hiểu cần phải chú tâm vào loại thiền định nào để đoạn trừ các lậu hoặc ngay trong đời này. Vào dịp đó, vị ấy nên đến gặp một vị khất sĩ đáng kính và nói, "Con không hiểu cần phải chú tâm vào loại thiền định nào để đoạn trừ các lậu hoặc ngay trong đời này. Kính bạch Tôn giả, xin hãy dạy con cách đoạn trừ các lậu hoặc." Khi ấy, vị khất sĩ đáng kính đó dạy vị ấy cách đoạn trừ các lậu hoặc. Đây là dịp thích hợp thứ sáu để đến gặp một vị khất sĩ đáng kính.'

Thưa các Hiền giả, tôi đã nghe và học điều này từ nơi Đức Phật: 'Đây là sáu dịp thích hợp để đến gặp một vị khất sĩ đáng kính.'"

AN 6.29 Với Udāyī Kinh Udāyī

Khi ấy, Đức Phật nói với Udāyī: "Này Udāyī, có bao nhiêu đề mục cần phải nhớ?"

Khi Ngài nói vậy, Udāyī giữ im lặng.

Lần thứ hai... và lần thứ ba, Đức Phật nói với ông: "Này Udāyī, có bao nhiêu đề mục cần phải nhớ?"

Lần thứ hai và lần thứ ba, Udāyī vẫn giữ im lặng.

Khi ấy, Tôn giả Ānanda nói với Tôn giả Udāyī: "Thưa Hiền giả Udāyī, bậc Đạo Sư đang hỏi Ngài đó."

"Thưa Hiền giả Ānanda, tôi nghe Đức Phật nói.

Đó là khi một vị khất sĩ cần phải nhớ lại nhiều loại các đời quá khứ (past lives / những kiếp sống trước). Đó là: một, hai, ba, bốn, năm, mười, hai mươi, ba mươi, bốn mươi, năm mươi, một trăm, một ngàn, một trăm ngàn lần tái sinh; nhiều kiếp (eons / đơn vị thời gian rất dài trong vũ trụ quan Phật giáo) thế giới hoại (world contracting / giai đoạn thế giới tan rã), nhiều kiếp thế giới thành (world expanding / giai đoạn thế giới hình thành), nhiều kiếp thế giới hoại và thành. Vị ấy nhớ lại: 'Ở đó, ta tên là thế này, dòng họ là thế kia, trông như thế này, và thức ăn của ta là thế đó. Đây là cách ta cảm nhận an vui và khổ đau, và đó là cách cuộc đời ta kết thúc. Khi ta mệnh chung từ nơi đó, ta tái sinh ở một nơi khác. Ở đó, ta cũng tên là thế này, dòng họ là thế kia, trông như thế này, và thức ăn của ta là thế đó. Đây là cách ta cảm nhận an vui và khổ đau, và đó là cách cuộc đời ta kết thúc. Khi ta mệnh chung từ nơi đó, ta tái sinh ở đây.' Và cứ thế, vị ấy cần phải nhớ lại nhiều loại đời quá khứ của mình, với các tướng và trạng (features and details / các đặc điểm và chi tiết). Đây là một đề mục cần phải nhớ."

Khi ấy, Đức Phật nói với Tôn giả Ānanda: "Này Ānanda, Ta biết rằng người ngu si Udāyī này không chuyên tâm vào tăng thượng tâm (higher mind / tâm cao thượng, tâm định tĩnh). Này Ānanda, có bao nhiêu đề mục cần phải nhớ?"

"Thưa Ngài, có năm đề mục cần phải nhớ. Năm đề mục ấy là gì?

Thứ nhất, một vị khất sĩ, hoàn toàn ly dục (secluded from sensual pleasures / xa lìa các ham muốn giác quan), ly bất thiện pháp (secluded from unskillful qualities / xa lìa các trạng thái tâm xấu), nhập và an trú sơ thiền (first absorption / tầng thiền thứ nhất) ... nhị thiền (second absorption / tầng thiền thứ hai) ... tam thiền (third absorption / tầng thiền thứ ba). Khi đề mục cần phải nhớ này được phát triển và tu tập theo cách này, nó đưa đến hiện tại lạc trú (blissful meditation / sự an trú trong an lạc ngay trong hiện tại).

Lại nữa, một vị khất sĩ chú tâm vào quang tưởng (perception of light / sự quán tưởng ánh sáng), chú tâm vào bạch trú tưởng (perception of day / sự quán tưởng ban ngày) bất kể là đêm hay ngày. Và như vậy, với tâm mở rộng không bị che đậy (open and unenveloped heart / tâm không bị giới hạn hay che lấp), vị ấy phát triển một tâm biến mãn ánh sáng (mind that's full of radiance / tâm tràn đầy ánh sáng). Khi đề mục cần phải nhớ này được phát triển và tu tập theo cách này, nó đưa đến trí và kiến (knowledge and vision / sự hiểu biết và thấy rõ).

Lại nữa, một vị khất sĩ quán xét thân này của mình từ lòng bàn chân trở lên và từ đỉnh tóc trở xuống, được bao bọc bởi da và đầy nhiều loại bất tịnh (many kinds of filth / các thứ dơ bẩn trong cơ thể). 'Trong thân này có tóc, lông, móng, răng, da, thịt, gân, xương, tủy xương, thận, tim, gan, cơ hoành, lá lách, phổi, ruột, màng ruột, thức ăn chưa tiêu, phân, mật, đờm, mủ, máu, mồ hôi, mỡ, nước mắt, mỡ nước, nước bọt, nước mũi, hoạt dịch khớp, nước tiểu.' Khi đề mục cần phải nhớ này được phát triển và tu tập theo cách này, nó đưa đến sự từ bỏ dục tham.

Lại nữa, giả sử một vị khất sĩ thấy một xác chết bị quăng trong nghĩa địa (charnel ground / nơi quăng xác chết). Và nó đã chết được một, hai, hoặc ba ngày, trương phình (bloated / sình lên), xanh tím (livid / có màu tái xanh), và chảy mủ (festering / thối rữa, có mủ). Vị ấy so sánh nó với thân của chính mình: 'Thân này cũng có cùng bản chất như vậy, cùng loại như vậy, và không thể vượt qua điều đó.'

Hoặc giả sử vị ấy thấy một xác chết bị quăng trong nghĩa địa đang bị quạ, diều hâu, kền kền, chó, chó rừng, và nhiều loại sinh vật nhỏ bé ăn thịt. Vị ấy so sánh nó với thân của chính mình: 'Thân này cũng có cùng bản chất như vậy, cùng loại như vậy, và không thể vượt qua điều đó.'

Lại nữa, giả sử vị ấy thấy một xác chết bị quăng trong nghĩa địa, một bộ xương còn thịt và máu, được giữ lại với nhau bằng gân ... Một bộ xương không còn thịt nhưng dính máu, và được giữ lại với nhau bằng gân ... Một bộ xương không còn thịt và máu, được giữ lại với nhau bằng gân ... Xương không còn gân nằm rải rác khắp nơi. Đây là xương tay, kia là xương chân, đây là xương ống chân, kia là xương đùi, đây là xương hông, kia là xương sườn, đây là xương sống, kia là xương cánh tay, đây là xương cổ, kia là xương hàm, đây là răng, kia là hộp sọ ... Xương trắng, màu như vỏ sò ... Xương mục nát, chất thành đống ... Xương thối rữa và vỡ vụn thành bột. Vị ấy so sánh nó với thân của chính mình: 'Thân này cũng có cùng bản chất như vậy, cùng loại như vậy, và không thể vượt qua điều đó.' Khi đề mục cần phải nhớ này được phát triển và tu tập theo cách này, nó đưa đến sự nhổ bật gốc ngã mạn (conceit 'I am' / sự kiêu ngạo về cái 'tôi').

Lại nữa, một vị khất sĩ, từ bỏ an vui (pleasure / cảm giác dễ chịu) và khổ (pain / cảm giác khó chịu), và chấm dứt vui vẻ (happiness / niềm vui tinh thần) và ưu (sadness / nỗi buồn rầu) trước đó, nhập và an trú tứ thiền (fourth absorption / tầng thiền thứ tư), không an vui không khổ, với xả niệm thanh tịnh (pure equanimity and mindfulness / sự quân bình và tỉnh thức trong sạch). Khi đề mục cần phải nhớ này được phát triển và tu tập theo cách này, nó đưa đến thắng trí các giới (penetration of many elements / trí tuệ thấu suốt các yếu tố cấu thành). Đây là năm đề mục cần phải nhớ."

"Tốt lắm, tốt lắm, Ānanda. Vậy thì, Ānanda, con cũng nên nhớ đề mục cần phải nhớ thứ sáu này. Trong trường hợp này, một vị khất sĩ đi ra với tỉnh thức, trở về với tỉnh thức, đứng với tỉnh thức, ngồi với tỉnh thức, nằm với tỉnh thức, và chú tâm vào công việc với tỉnh thức. Khi đề mục cần phải nhớ này được phát triển và tu tập theo cách này, nó đưa đến tỉnh thức và tỉnh giác (situational awareness / sự nhận biết rõ ràng hoàn cảnh xung quanh và hành động của mình)."

AN 6.30 Vô Thượng Kinh Anuttariya

"Này các vị khất sĩ, sáu điều này là vô thượng (unsurpassable / không gì cao hơn). Sáu điều ấy là gì? Sự thấy (seeing / sự nhìn thấy) vô thượng, sự nghe (listening / sự nghe) vô thượng, sự được (acquisition / sự đạt được, sở hữu) vô thượng, sự học (training / sự rèn luyện, tu học) vô thượng, sự phục vụ (service / sự hầu hạ, chăm sóc) vô thượng, và sự cần phải nhớ (recollection / sự ghi nhớ, quán niệm) vô thượng.

Và thế nào là sự thấy vô thượng? Một số người đi xem voi báu (elephant-treasure / con voi quý giá), ngựa báu (horse-treasure / con ngựa quý giá), ngọc báu (jewel-treasure / viên ngọc quý giá), hoặc nhiều cảnh tượng khác nhau (diverse spectrum of sights / các loại cảnh vật đa dạng); hoặc các sa môn và bà la môn (ascetics and brahmins / các nhà tu khổ hạnh và tu sĩ Bà la môn giáo) có tà kiến (wrong view / cái thấy sai lầm) và tà hạnh (wrong practice / sự thực hành sai lầm). Có sự thấy như vậy, Ta không phủ nhận. Sự thấy đó là thấp kém (low / hèn hạ), thô thiển (crude / tầm thường), phàm tục (ordinary / thuộc về thế gian), không cao thượng (ignoble / không thuộc về bậc thánh), và không lợi ích (pointless / vô ích). Nó không đưa đến nhàm chán (disillusionment / sự chán ngán thế gian), ly tham (dispassion / sự không còn tham ái), đoạn diệt (cessation / sự chấm dứt khổ đau), an tịnh (peace / sự yên tĩnh, bình an), thắng trí (insight / trí tuệ thấy rõ bản chất sự vật), giác ngộ (awakening / sự tỉnh thức, hiểu rõ chân lý), và Niết-bàn (extinguishment / sự dập tắt hoàn toàn phiền não, khổ đau). Sự thấy vô thượng là khi một người có niềm tin và lòng mến đã an trú (settled faith and love / lòng tin và yêu kính vững chắc), xác tín và tận tâm (sure and devoted / chắc chắn và hết lòng), đi đến gặp một bậc Như Lai hoặc đệ tử của Ngài. Điều này nhằm để thanh lọc chúng sinh, vượt qua sầu và bi, chấm dứt khổ và ưu, chứng đạt chánh lý, và chứng ngộ Niết-bàn. Đây được gọi là sự thấy vô thượng. Như vậy là sự thấy vô thượng.

Nhưng thế nào là sự nghe vô thượng? Một số người đi nghe tiếng trống (drums / nhạc cụ gõ), đàn hạc (arched harps / loại đàn dây cổ), ca hát (singing / tiếng hát), hoặc nhiều loại âm thanh khác nhau; hoặc các sa môn và bà la môn có tà kiến và tà hạnh. Có sự nghe như vậy, Ta không phủ nhận. Sự nghe đó ... không đưa đến Niết-bàn. Sự nghe vô thượng là khi một người có niềm tin và lòng mến đã an trú, xác tín và tận tâm, đi đến nghe Pháp của một bậc Như Lai hoặc một trong các đệ tử của Ngài. ... Đây được gọi là sự nghe vô thượng. Như vậy là sự thấy và nghe vô thượng.

Nhưng thế nào là sự được vô thượng? Một số người được con cái (child / con), vợ (wife / người bạn đời nữ), tài sản (wealth / của cải), hoặc nhiều thứ khác nhau; hoặc họ có được niềm tin vào một sa môn hay bà la môn có tà kiến và tà hạnh. Có sự được như vậy, Ta không phủ nhận. Sự được đó ... không đưa đến Niết-bàn. Sự được vô thượng là khi một người có niềm tin và lòng mến đã an trú, xác tín và tận tâm, có được niềm tin vào một bậc Như Lai hoặc đệ tử của Ngài. ... Đây được gọi là sự được vô thượng. Như vậy là sự thấy, nghe, và được vô thượng.

Nhưng thế nào là sự học vô thượng? Một số người học thuật cỡi voi (elephant riding / kỹ năng điều khiển voi), thuật cỡi ngựa (horse riding / kỹ năng điều khiển ngựa), thuật đánh xe (chariot driving / kỹ năng điều khiển xe ngựa), thuật bắn cung (archery / kỹ năng bắn cung), thuật đấu kiếm (swordsmanship / kỹ năng dùng kiếm), hoặc nhiều thứ khác nhau; hoặc họ học theo một sa môn hay bà la môn có tà kiến và tà hạnh. Có sự học như vậy, Ta không phủ nhận. Sự học đó ... không đưa đến Niết-bàn. Sự học vô thượng là khi một người có niềm tin và lòng mến đã an trú, xác tín và tận tâm, học tăng thượng giới (higher ethics / giới hạnh cao hơn), tăng thượng tâm, và tăng thượng tuệ (higher wisdom / trí tuệ cao hơn) trong Pháp và Luật do bậc Như Lai tuyên thuyết (teaching and training proclaimed by a Realized One / giáo pháp và giới luật do Đức Phật giảng dạy). ... Đây được gọi là sự học vô thượng. Như vậy là sự thấy, nghe, được, và học vô thượng.

Nhưng thế nào là sự phục vụ vô thượng? Một số người phục vụ người dòng dõi Sát-đế-lỵ (aristocrat / người thuộc giai cấp quý tộc, chiến binh), người dòng dõi Bà-la-môn (brahmin / người thuộc giai cấp tu sĩ, trí thức), người gia chủ (householder / người tại gia), hoặc nhiều người khác nhau; hoặc họ phục vụ các sa môn và bà la môn có tà kiến và tà hạnh. Có sự phục vụ như vậy, Ta không phủ nhận. Sự phục vụ đó ... không đưa đến Niết-bàn. Sự phục vụ vô thượng là khi một người có niềm tin và lòng mến đã an trú, xác tín và tận tâm, phục vụ một bậc Như Lai hoặc đệ tử của Ngài. ... Đây được gọi là sự phục vụ vô thượng. Như vậy là sự thấy, nghe, được, học, và phục vụ vô thượng.

Nhưng thế nào là sự cần phải nhớ vô thượng? Một số người cần phải nhớ đến con cái, vợ, tài sản, hoặc nhiều thứ khác nhau; hoặc họ cần phải nhớ đến một sa môn hay bà la môn có tà kiến và tà hạnh. Có sự cần phải nhớ như vậy, Ta không phủ nhận. Sự cần phải nhớ đó là thấp kém, thô thiển, phàm tục, không cao thượng, và không lợi ích. Nó không đưa đến nhàm chán, ly tham, đoạn diệt, an tịnh, thắng trí, giác ngộ, và Niết-bàn. Sự cần phải nhớ vô thượng là khi một người có niềm tin và lòng mến đã an trú, xác tín và tận tâm, cần phải nhớ đến một bậc Như Lai hoặc đệ tử của Ngài. ... Đây được gọi là sự cần phải nhớ vô thượng.

Đây là sáu điều vô thượng.

Họ đã đạt được sự thấy vô thượng,
Sự nghe vô thượng,
Và sự được vô thượng.
Họ vui hưởng sự học vô thượng

Và phục vụ với lòng thành kính.
Rồi họ phát triển sự cần phải nhớ
Liên hệ đến độc cư (seclusion / sự sống một mình, xa lánh),
An ổn, và đưa đến bất tử (freedom from death / trạng thái không còn chết).

Họ hoan hỷ trong tinh cần (diligence / sự siêng năng, nỗ lực),
Tỉnh giác và thu thúc trong giới luật (ethically restrained / sống có kiểm soát theo giới luật).
Và theo thời gian, họ đạt đến
Nơi khổ đau đoạn diệt (place where suffering ceases / Niết-bàn)."