Skip to content

Phẩm về các Cư sĩ

AN 8.21 Cùng Ugga ở Vesālī Paṭhamauggasutta

Một thời Đức Phật trú gần Vesālī, tại Đại Lâm, trong giảng đường có mái nhọn. Tại đây, Đức Phật gọi các Tỳ kheo: "Này các Tỳ kheo, các con nên ghi nhớ gia chủ Ugga ở Vesālī là người có tám phẩm chất kỳ diệu và phi thường."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Sau khi nói xong, Đấng Thiện Thệ đứng dậy từ chỗ ngồi và đi vào tịnh thất của Ngài.

Bấy giờ, một Tỳ kheo nọ vào buổi sáng đắp y, mang bát và y, đi đến nhà gia chủ Ugga ở Vesālī, rồi ngồi vào chỗ đã soạn sẵn. Sau đó, gia chủ Ugga ở Vesālī đến gần vị Tỳ kheo ấy, đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên. Vị Tỳ kheo nói với ông:

"Thưa gia chủ, Đức Phật đã tuyên bố rằng ông có tám phẩm chất kỳ diệu và phi thường. Tám phẩm chất mà Ngài nói đến là gì vậy?"

"Thưa ngài, tôi không biết Đức Phật muốn nói đến tám phẩm chất kỳ diệu và phi thường nào. Nhưng tám phẩm chất kỳ diệu và phi thường này có nơi tôi. Xin ngài lắng nghe và khéo tác ý, tôi sẽ nói."

"Vâng, thưa gia chủ," vị Tỳ kheo đáp. Gia chủ Ugga ở Vesālī nói như sau:

"Thưa ngài, khi lần đầu tiên tôi nhìn thấy Đức Phật từ xa, tâm tôi đã khởi tín ngay khi vừa thấy Ngài. Đây là phẩm chất kỳ diệu và phi thường thứ nhất có nơi tôi.

Với tâm tín thành, tôi đã đảnh lễ Đức Phật. Đức Phật đã dạy tôi tuần tự, với một bài pháp về bố thí (giving / sự cho đi, cúng dường), trì giới (ethical conduct / giữ gìn đạo đức), và các cõi trời (heaven / các cảnh giới an vui của chư thiên). Ngài giải thích sự nguy hiểm của các dục lạc (sensual pleasures / niềm vui ngũ dục), sự thấp kém và ô nhiễm của chúng, và lợi ích của sự xuất ly (renunciation / sự từ bỏ, thoát ly khỏi ràng buộc). Và khi Ngài biết tâm tôi đã sẵn sàng, nhu nhuyến, không còn chướng ngại (hindrances / những điều cản trở tâm), phấn khởi và tin tưởng, Ngài đã giải thích lời dạy đặc biệt của chư Phật: khổ (suffering / sự đau khổ, không hài lòng), nguồn gốc của khổ (its origin / nguyên nhân sinh ra khổ), sự diệt khổ (its cessation / sự chấm dứt khổ), và con đường đưa đến diệt khổ (the path / Bát Chánh Đạo). Giống như một tấm vải sạch không còn vết bẩn sẽ thấm thuốc nhuộm đúng cách, ngay tại chỗ ngồi đó, pháp nhãn không tỳ vết, trong sạch đối với Giáo Pháp (Dhamma / lời dạy của Đức Phật) đã sinh khởi trong tôi: ‘Phàm cái gì có sinh, cái đó có diệt.’ Tôi đã thấy, đã đạt được, đã hiểu, và đã thâm nhập Giáo Pháp. Tôi đã vượt qua nghi ngờ, thoát khỏi sự do dự, trở nên tự tin và không còn phụ thuộc vào người khác đối với lời dạy của Bậc Đạo Sư. Ngay tại đó, tôi đã quy y Phật, quy y Pháp, và quy y Tăng đoàn (Saṅgha / cộng đồng các vị xuất gia). Và tôi đã thọ trì năm học giới (training rules / điều học, giới luật) với việc sống độc thân là điều thứ năm. Đây là phẩm chất kỳ diệu và phi thường thứ hai có nơi tôi.

Tôi có bốn người vợ trẻ. Và tôi đã đến gặp họ và nói: ‘Thưa các chị, tôi đã thọ trì năm học giới với việc sống độc thân là điều thứ năm. Nếu các chị muốn, các chị có thể ở lại đây, hưởng thụ tài sản của tôi, và làm các việc phước thiện. Hoặc các chị có thể trở về gia đình của mình. Hay các chị có muốn tôi gả các chị cho một người đàn ông khác không?’ Khi tôi nói điều này, người vợ cả của tôi nói với tôi: ‘Thưa chủ nhân, xin hãy gả tôi cho người đàn ông tên là như vậy.’ Sau đó, tôi gọi người đàn ông đó đến. Tay trái tôi nắm tay vợ, tay phải cầm bình nước nghi lễ, tôi đã trao cô ấy cho người đàn ông đó bằng nghi thức rót nước. Nhưng tôi không nhớ là mình có chút dao động tâm nào khi cho đi người vợ trẻ của mình. Đây là phẩm chất kỳ diệu và phi thường thứ ba có nơi tôi.

Và mặc dù gia đình tôi có của cải, nó được chia sẻ không dè sẻn với những người có đạo đức, phẩm hạnh tốt đẹp. Đây là phẩm chất kỳ diệu và phi thường thứ tư có nơi tôi.

Khi tôi đảnh lễ một Tỳ kheo, tôi làm điều đó một cách cẩn trọng, không phải một cách lơ là. Đây là phẩm chất kỳ diệu và phi thường thứ năm có nơi tôi.

Nếu vị Tôn giả đó dạy tôi Giáo Pháp, tôi lắng nghe cẩn trọng, không phải một cách lơ là. Nhưng nếu vị ấy không dạy tôi Giáo Pháp, tôi sẽ dạy lại vị ấy. Đây là phẩm chất kỳ diệu và phi thường thứ sáu có nơi tôi.

Không có gì lạ khi chư thiên (deities / các vị trời ở các cõi trời) đến gặp tôi và thông báo: ‘Thưa gia chủ, Giáo Pháp của Đức Phật được khéo giảng!’ Khi họ nói điều này, tôi nói với họ: ‘Giáo Pháp của Đức Phật được khéo giảng, dù chư thiên các vị có nói hay không!’ Nhưng tôi không nhớ là mình quá phấn khích vì việc chư thiên đến gặp tôi, và tôi có cuộc trò chuyện với họ. Đây là phẩm chất kỳ diệu và phi thường thứ bảy có nơi tôi.

Trong số năm hạ phần kiết sử (five lower fetters / năm sợi dây trói buộc ở cõi thấp: thân kiến, hoài nghi, sùng tín và giáo điều, dục tham, tức giận) mà Đức Phật đã dạy, tôi không thấy có cái nào mà tôi chưa từ bỏ. Đây là phẩm chất kỳ diệu và phi thường thứ tám có nơi tôi.

Tám phẩm chất kỳ diệu và phi thường này có nơi tôi. Nhưng tôi không biết Đức Phật muốn nói đến tám phẩm chất kỳ diệu và phi thường nào."

Sau đó, vị Tỳ kheo ấy, sau khi dùng vật thực khất thực tại nhà của gia chủ Ugga ở Vesālī, đã đứng dậy từ chỗ ngồi và rời đi. Rồi sau bữa ăn, trên đường từ nơi khất thực trở về, vị ấy đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên. Vị ấy trình bày với Đức Phật tất cả những gì đã thảo luận với gia chủ Ugga ở Vesālī. Đức Phật nói:

"Lành thay, lành thay, Tỳ kheo! Khi Ta tuyên bố gia chủ Ugga ở Vesālī là người có tám phẩm chất kỳ diệu và phi thường, Ta muốn nói đến chính tám phẩm chất mà ông ấy đã giải thích đúng đắn cho con. Con nên ghi nhớ gia chủ Ugga ở Vesālī là người có tám phẩm chất kỳ diệu và phi thường này."

AN 8.22 Cùng Ugga ở Làng Voi Dutiyauggasutta

Một thời Đức Phật trú tại xứ Vajji, ở Làng Voi. Tại đây, Đức Phật gọi các Tỳ kheo: "Này các Tỳ kheo, các con nên ghi nhớ gia chủ Ugga ở Làng Voi là người có tám phẩm chất kỳ diệu và phi thường."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Sau khi nói xong, Đấng Thiện Thệ đứng dậy từ chỗ ngồi và đi vào tịnh thất của Ngài.

Bấy giờ, một Tỳ kheo nọ vào buổi sáng đắp y, mang bát và y, đi đến nhà gia chủ Ugga ở Làng Voi, rồi ngồi vào chỗ đã soạn sẵn. Sau đó, gia chủ Ugga ở Làng Voi đến gần vị Tỳ kheo ấy, đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên. Vị Tỳ kheo nói với ông:

"Thưa gia chủ, Đức Phật đã tuyên bố rằng ông có tám phẩm chất kỳ diệu và phi thường. Tám phẩm chất mà Ngài nói đến là gì vậy?"

"Thưa ngài, tôi không biết Đức Phật muốn nói đến tám phẩm chất kỳ diệu và phi thường nào. Nhưng tám phẩm chất kỳ diệu và phi thường này có nơi tôi. Xin ngài lắng nghe và khéo tác ý, tôi sẽ nói."

"Vâng, thưa gia chủ," vị Tỳ kheo đáp. Gia chủ Ugga ở Làng Voi nói như sau:

"Thưa ngài, khi lần đầu tiên tôi nhìn thấy Đức Phật từ xa, lúc đó tôi đang vui chơi tiệc tùng ở Vườn Rồng. Tâm tôi đã khởi tín ngay khi vừa thấy Ngài, và tôi tỉnh táo trở lại. Đây là phẩm chất kỳ diệu và phi thường thứ nhất có nơi tôi.

Với tâm tín thành, tôi đã đảnh lễ Đức Phật. Đức Phật đã dạy tôi tuần tự, với một bài pháp về bố thí, trì giới, và các cõi trời. Ngài giải thích sự nguy hiểm của các dục lạc, sự thấp kém và ô nhiễm của chúng, và lợi ích của sự xuất ly. Và khi Ngài biết tâm tôi đã sẵn sàng, nhu nhuyến, không còn chướng ngại, phấn khởi và tin tưởng, Ngài đã giải thích lời dạy đặc biệt của chư Phật: khổ, nguồn gốc của khổ, sự diệt khổ, và con đường đưa đến diệt khổ. Giống như một tấm vải sạch không còn vết bẩn sẽ thấm thuốc nhuộm đúng cách, ngay tại chỗ ngồi đó, pháp nhãn không tỳ vết, trong sạch đối với Giáo Pháp đã sinh khởi trong tôi: ‘Phàm cái gì có sinh, cái đó có diệt.’ Tôi đã thấy, đã đạt được, đã hiểu, và đã thâm nhập Giáo Pháp. Tôi đã vượt qua nghi ngờ, thoát khỏi sự do dự, trở nên tự tin và không còn phụ thuộc vào người khác đối với lời dạy của Bậc Đạo Sư. Ngay tại đó, tôi đã quy y Phật, quy y Pháp, và quy y Tăng đoàn. Và tôi đã thọ trì năm học giới với việc sống độc thân là điều thứ năm. Đây là phẩm chất kỳ diệu và phi thường thứ hai có nơi tôi.

Tôi có bốn người vợ trẻ. Và tôi đã đến gặp họ và nói: ‘Thưa các chị, tôi đã thọ trì năm học giới với việc sống độc thân là điều thứ năm. Nếu các chị muốn, các chị có thể ở lại đây, hưởng thụ tài sản của tôi, và làm các việc phước thiện. Hoặc các chị có thể trở về gia đình của mình. Hay các chị có muốn tôi gả các chị cho một người đàn ông khác không?’ Khi tôi nói điều này, người vợ cả của tôi nói với tôi: ‘Thưa chủ nhân, xin hãy gả tôi cho người đàn ông tên là như vậy.’ Sau đó, tôi gọi người đàn ông đó đến. Tay trái tôi nắm tay vợ, tay phải cầm bình nước nghi lễ, tôi đã trao cô ấy cho người đàn ông đó bằng nghi thức rót nước. Nhưng tôi không nhớ là mình có chút dao động tâm nào khi cho đi người vợ trẻ của mình. Đây là phẩm chất kỳ diệu và phi thường thứ ba có nơi tôi.

Và mặc dù gia đình tôi có của cải, nó được chia sẻ không dè sẻn với những người có đạo đức, phẩm hạnh tốt đẹp. Đây là phẩm chất kỳ diệu và phi thường thứ tư có nơi tôi.

Khi tôi đảnh lễ một Tỳ kheo, tôi làm điều đó một cách cẩn trọng, không phải một cách lơ là. Nếu vị Tôn giả đó dạy tôi Giáo Pháp, tôi lắng nghe cẩn trọng, không phải một cách lơ là. Nhưng nếu vị ấy không dạy tôi Giáo Pháp, tôi sẽ dạy lại vị ấy. Đây là phẩm chất kỳ diệu và phi thường thứ năm có nơi tôi.

Không có gì lạ khi chư thiên đến gặp tôi khi Tăng đoàn được mời đến và thông báo: ‘Thưa gia chủ, vị Tỳ kheo kia là bậc câu phần giải thoát (freed both ways / giải thoát nhờ cả trí tuệ và thiền định). Vị kia là bậc tuệ giải thoát (freed by wisdom / giải thoát nhờ trí tuệ). Vị kia là bậc thân chứng (direct witness / người đã tự mình chứng ngộ). Vị kia là bậc kiến đáo (attained to view / người đã đạt được chánh kiến). Vị kia là bậc tín giải thoát (freed by faith / giải thoát nhờ niềm tin). Vị kia là bậc tùy pháp hành (follower of teachings / người thực hành theo giáo pháp). Vị kia là bậc tùy tín hành (follower by faith / người thực hành theo niềm tin). Vị kia là người có đạo đức, phẩm hạnh tốt. Vị kia là người không có đạo đức, phẩm hạnh xấu.’ Nhưng khi tôi đang phục vụ Tăng đoàn, tôi không nhớ mình có suy nghĩ: ‘Hãy cúng dường vị này ít thôi, và vị kia nhiều một chút.’ Thay vào đó, tôi cúng dường một cách bình đẳng. Đây là phẩm chất kỳ diệu và phi thường thứ sáu có nơi tôi.

Không có gì lạ khi chư thiên đến gặp tôi và thông báo: ‘Thưa gia chủ, Giáo Pháp của Đức Phật được khéo giảng!’ Khi họ nói điều này, tôi nói với họ: ‘Giáo Pháp của Đức Phật được khéo giảng, dù chư thiên các vị có nói hay không!’ Nhưng tôi không nhớ là mình quá phấn khích vì việc chư thiên đến gặp tôi, và tôi có cuộc trò chuyện với họ. Đây là phẩm chất kỳ diệu và phi thường thứ bảy có nơi tôi.

Nếu tôi qua đời trước Đức Phật, sẽ không có gì lạ nếu Đức Phật tuyên bố về tôi: ‘Gia chủ Ugga ở Làng Voi không còn bị bất kỳ kiết sử (fetter / sợi dây trói buộc) nào có thể khiến ông ấy tái sinh trở lại thế giới này.’ Đây là phẩm chất kỳ diệu và phi thường thứ tám có nơi tôi.

Tám phẩm chất kỳ diệu và phi thường này có nơi tôi. Nhưng tôi không biết Đức Phật muốn nói đến tám phẩm chất kỳ diệu và phi thường nào."

Sau đó, vị Tỳ kheo ấy, sau khi dùng vật thực khất thực tại nhà của gia chủ Ugga ở Làng Voi, đã đứng dậy từ chỗ ngồi và rời đi. Rồi sau bữa ăn, trên đường từ nơi khất thực trở về, vị ấy đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên. Vị ấy trình bày với Đức Phật tất cả những gì đã thảo luận với gia chủ Ugga ở Làng Voi. Đức Phật nói:

"Lành thay, lành thay, Tỳ kheo! Khi Ta tuyên bố gia chủ Ugga ở Làng Voi là người có tám phẩm chất kỳ diệu và phi thường, Ta muốn nói đến chính tám phẩm chất mà ông ấy đã giải thích đúng đắn cho con. Con nên ghi nhớ gia chủ Ugga ở Làng Voi là người có tám phẩm chất kỳ diệu và phi thường này."

AN 8.23 Cùng Hatthaka (Thứ nhất) Paṭhamahatthakasutta

Một thời Đức Phật trú gần Āḷavī, tại điện thờ cây Aggāḷava. Tại đây, Đức Phật gọi các Tỳ kheo:

"Này các Tỳ kheo, các con nên ghi nhớ gia chủ Hatthaka ở Āḷavī là người có bảy phẩm chất kỳ diệu và phi thường. Bảy phẩm chất đó là gì? Ông ấy có niềm tin (faithful / sự tin tưởng vững chắc vào Tam Bảo), có đạo đức, biết xấu hổ (conscientious / hổ thẹn với tội lỗi), biết sợ điều ác (prudent / ghê sợ hậu quả của việc ác), học rộng, rộng rãi, và có trí tuệ (wise / sự hiểu biết đúng đắn). Các con nên ghi nhớ gia chủ Hatthaka ở Āḷavī là người có bảy phẩm chất kỳ diệu và phi thường này."

Đó là những gì Đức Phật đã nói. Sau khi nói xong, Đấng Thiện Thệ đứng dậy từ chỗ ngồi và đi vào tịnh thất của Ngài.

Bấy giờ, một Tỳ kheo nọ vào buổi sáng đắp y, mang bát và y, đi đến nhà gia chủ Hatthaka ở Āḷavī, rồi ngồi vào chỗ đã soạn sẵn. Sau đó, Hatthaka đến gần vị Tỳ kheo ấy, đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên. Vị Tỳ kheo nói với Hatthaka:

"Thưa gia chủ, Đức Phật đã tuyên bố rằng ông có bảy phẩm chất kỳ diệu và phi thường. Bảy phẩm chất đó là gì? Ngài nói rằng ông có niềm tin, có đạo đức, biết xấu hổ, biết sợ điều ác, học rộng, rộng rãi, và có trí tuệ. Đức Phật đã tuyên bố rằng ông có bảy phẩm chất kỳ diệu và phi thường này."

"Nhưng thưa ngài, tôi tin rằng không có cư sĩ áo trắng nào có mặt lúc đó chứ?"

"Không, không có cư sĩ áo trắng nào có mặt lúc đó."

"Thật tốt quá, thưa ngài."

Sau đó, vị Tỳ kheo ấy, sau khi dùng vật thực khất thực tại nhà của Hatthaka ở Āḷavī, đã đứng dậy từ chỗ ngồi và rời đi. Rồi sau bữa ăn, trên đường từ nơi khất thực trở về, vị ấy đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và kể lại cho Ngài nghe những gì đã thảo luận với gia chủ Hatthaka. Đức Phật nói:

"Lành thay, lành thay, Tỳ kheo! Vị thiện nam tử đó ít mong muốn. Ông ấy không muốn những phẩm chất tốt đẹp của mình được người khác biết đến. Vậy thì, Tỳ kheo, con nên ghi nhớ gia chủ Hatthaka ở Āḷavī là người có thêm phẩm chất kỳ diệu và phi thường thứ tám này, đó là, sự ít mong muốn."

AN 8.24 Cùng Hatthaka (Thứ hai) Dutiyahatthakasutta

Một thời Đức Phật trú gần Āḷavī, tại điện thờ cây Aggāḷava. Bấy giờ, gia chủ Hatthaka ở Āḷavī, cùng với khoảng năm trăm vị cư sĩ tại gia, đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với Hatthaka:

"Này Hatthaka, ông có một hội chúng đông đảo. Làm thế nào ông quy tụ được một hội chúng đông đảo như vậy?"

"Thưa Thế Tôn, con quy tụ được một hội chúng đông đảo như vậy bằng cách sử dụng bốn pháp nhiếp phục (four ways of being inclusive / bốn cách thu phục lòng người: bố thí, ái ngữ, lợi hành, đồng sự) mà Đức Phật đã dạy. Khi con biết một người có thể được thu phục bằng sự cho đi, con thu phục họ bằng cách cho đi. Khi con biết một người có thể được thu phục bằng lời nói ái ngữ, con thu phục họ bằng lời nói ái ngữ. Khi con biết một người có thể được thu phục bằng cách quan tâm giúp đỡ họ, con thu phục họ bằng cách quan tâm giúp đỡ họ. Khi con biết một người có thể được thu phục bằng sự đối xử bình đẳng, con thu phục họ bằng cách đối xử bình đẳng với họ. Nhưng cũng thưa Thế Tôn, gia đình con giàu có. Họ sẽ không nghĩ rằng một người nghèo đáng được lắng nghe như vậy."

"Lành thay, lành thay, Hatthaka! Đây là cách đúng đắn để quy tụ một hội chúng đông đảo. Dù trong quá khứ, tương lai, hay hiện tại, tất cả những ai đã quy tụ được một hội chúng đông đảo đều đã làm như vậy bằng cách sử dụng bốn pháp nhiếp phục này."

Sau đó, Đức Phật đã giáo huấn, khuyến khích, làm phấn khởi và truyền cảm hứng cho Hatthaka ở Āḷavī bằng một bài Pháp thoại, sau đó ông đứng dậy từ chỗ ngồi, đảnh lễ, và đi nhiễu quanh Đức Phật một cách kính cẩn trước khi rời đi. Rồi, không lâu sau khi Hatthaka rời đi, Đức Phật gọi các Tỳ kheo: "Này các Tỳ kheo, các con nên ghi nhớ gia chủ Hatthaka ở Āḷavī là người có tám phẩm chất kỳ diệu và phi thường. Tám phẩm chất đó là gì? Ông ấy có niềm tin, có đạo đức, biết xấu hổ, biết sợ điều ác, học rộng, rộng rãi, có trí tuệ, và ít mong muốn. Các con nên ghi nhớ gia chủ Hatthaka ở Āḷavī là người có tám phẩm chất kỳ diệu và phi thường này."

AN 8.25 Cùng Mahānāma Mahānāmasutta

Một thời Đức Phật trú tại xứ của dòng họ Thích Ca, gần Ca-tỳ-la-vệ trong tu viện Cây Bàng. Bấy giờ Mahānāma dòng Thích Ca đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và nói với Ngài:

"Thưa Thế Tôn, một cư sĩ tại gia được định nghĩa như thế nào?"

"Này Mahānāma, khi con đã quy y Phật, Pháp, và Tăng đoàn, con được xem là một cư sĩ tại gia."

"Nhưng một cư sĩ tại gia có đạo đức được định nghĩa như thế nào?"

"Khi một cư sĩ tại gia không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, và không uống rượu bia và các chất gây say, họ được xem là một cư sĩ tại gia có đạo đức."

"Nhưng làm thế nào chúng ta định nghĩa một cư sĩ tại gia đang thực hành vì lợi ích của bản thân, không vì lợi ích của người khác?"

"Một cư sĩ tại gia thành tựu niềm tin, nhưng không khuyến khích người khác làm như vậy. Họ thành tựu giới hạnh, nhưng không khuyến khích người khác làm như vậy. Họ thành tựu sự rộng rãi, nhưng không khuyến khích người khác làm như vậy. Họ thích gặp gỡ các Tỳ kheo, nhưng không khuyến khích người khác làm như vậy. Họ thích nghe Chánh Pháp (true teaching / Giáo Pháp chân chính), nhưng không khuyến khích người khác làm như vậy. Họ dễ dàng ghi nhớ những lời dạy đã nghe, nhưng không khuyến khích người khác làm như vậy. Họ suy xét ý nghĩa của những lời dạy đã ghi nhớ, nhưng không khuyến khích người khác làm như vậy. Hiểu rõ ý nghĩa và lời dạy, họ thực hành theo đó, nhưng họ không khuyến khích người khác làm như vậy. Đó là cách chúng ta định nghĩa một cư sĩ tại gia đang thực hành vì lợi ích của bản thân, không vì lợi ích của người khác."

"Nhưng làm thế nào chúng ta định nghĩa một cư sĩ tại gia đang thực hành vì lợi ích của cả bản thân và người khác?"

"Một cư sĩ tại gia thành tựu niềm tin và khuyến khích người khác làm như vậy. Họ thành tựu giới hạnh và khuyến khích người khác làm như vậy. Họ thành tựu sự rộng rãi và khuyến khích người khác làm như vậy. Họ thích gặp gỡ các Tỳ kheo và khuyến khích người khác làm như vậy. Họ thích nghe Chánh Pháp và khuyến khích người khác làm như vậy. Họ dễ dàng ghi nhớ những lời dạy đã nghe và khuyến khích người khác làm như vậy. Họ suy xét ý nghĩa của những lời dạy đã ghi nhớ và khuyến khích người khác làm như vậy. Hiểu rõ ý nghĩa và lời dạy, họ thực hành theo đó và họ khuyến khích người khác làm như vậy. Đó là cách chúng ta định nghĩa một cư sĩ tại gia đang thực hành vì lợi ích của cả bản thân và người khác."

AN 8.26 Cùng Jīvaka Jīvakasutta

Một thời Đức Phật trú gần Vương Xá trong Vườn Xoài của Jīvaka. Bấy giờ Jīvaka Komārabhacca đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên, và nói với Ngài: "Thưa Thế Tôn, một cư sĩ tại gia được định nghĩa như thế nào?"

"Này Jīvaka, khi con đã quy y Phật, Pháp, và Tăng đoàn, con được xem là một cư sĩ tại gia."

"Nhưng một cư sĩ tại gia có đạo đức được định nghĩa như thế nào?"

"Khi một cư sĩ tại gia không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, và không uống rượu bia và các chất gây say, họ được xem là một cư sĩ tại gia có đạo đức."

"Nhưng làm thế nào chúng ta định nghĩa một cư sĩ tại gia đang thực hành vì lợi ích của bản thân, không vì lợi ích của người khác?"

"Một cư sĩ tại gia thành tựu niềm tin, nhưng không khuyến khích người khác làm như vậy. Họ thành tựu giới hạnh... họ thành tựu sự rộng rãi... họ thích gặp gỡ các Tỳ kheo... họ thích nghe Chánh Pháp... họ ghi nhớ những lời dạy... họ suy xét ý nghĩa... Hiểu rõ ý nghĩa và lời dạy, họ thực hành theo đó, nhưng họ không khuyến khích người khác làm như vậy. Đó là cách chúng ta định nghĩa một cư sĩ tại gia đang thực hành vì lợi ích của bản thân, không vì lợi ích của người khác."

"Nhưng làm thế nào chúng ta định nghĩa một cư sĩ tại gia đang thực hành vì lợi ích của cả bản thân và người khác?"

"Một cư sĩ tại gia thành tựu niềm tin và khuyến khích người khác làm như vậy. Họ thành tựu giới hạnh và khuyến khích người khác làm như vậy. Họ thành tựu sự rộng rãi và khuyến khích người khác làm như vậy. Họ thích gặp gỡ các Tỳ kheo và khuyến khích người khác làm như vậy. Họ thích nghe Chánh Pháp và khuyến khích người khác làm như vậy. Họ dễ dàng ghi nhớ những lời dạy đã nghe và khuyến khích người khác làm như vậy. Họ suy xét ý nghĩa của những lời dạy đã ghi nhớ và khuyến khích người khác làm như vậy. Hiểu rõ ý nghĩa và lời dạy, họ thực hành theo đó và họ khuyến khích người khác làm như vậy. Đó là cách chúng ta định nghĩa một cư sĩ tại gia đang thực hành vì lợi ích của cả bản thân và người khác."

AN 8.27 Các loại sức mạnh (Thứ nhất) Paṭhamabalasutta

"Này các Tỳ kheo, có tám loại sức mạnh này. Tám loại đó là gì? Tiếng khóc là sức mạnh của trẻ con. Sự tức giận là sức mạnh của phụ nữ. Vũ khí là sức mạnh của kẻ cướp. Quyền lực là sức mạnh của vua chúa. Than phiền là sức mạnh của kẻ ngu. Lý lẽ là sức mạnh của người khôn ngoan. Sự suy ngẫm là sức mạnh của người học rộng. Nhẫn nại (Patience / sự chịu đựng, kiên trì) là sức mạnh của sa môn (ascetics / người tu khổ hạnh) và bà la môn (brahmins / người thuộc giai cấp tu sĩ Bà la môn giáo). Đây là tám loại sức mạnh."

AN 8.28 Các loại sức mạnh (Thứ hai) Dutiyabalasutta

Bấy giờ Tôn giả Xá Lợi Phất đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, và ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với Tôn giả:

"Này Xá Lợi Phất, một Tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc (defilements / những ô nhiễm làm rỉ chảy trong tâm, như dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu) có bao nhiêu sức mạnh để có thể tuyên bố: ‘Các lậu hoặc của tôi đã đoạn tận’?"

"Thưa Thế Tôn, một Tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc có tám sức mạnh để có thể tuyên bố: ‘Các lậu hoặc của tôi đã đoạn tận.’

Tám loại đó là gì? Thứ nhất, một Tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc đã thấy rõ bằng chánh trí tuệ rằng mọi pháp hữu vi (conditions / các pháp do duyên sinh, có điều kiện) là thực sự vô thường. Đây là một sức mạnh mà một Tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc dựa vào để tuyên bố: ‘Các lậu hoặc của tôi đã đoạn tận.’

Hơn nữa, một Tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc đã thấy rõ bằng chánh trí tuệ rằng các dục lạc thực sự giống như hầm than hừng. Đây là một sức mạnh mà một Tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc dựa vào để tuyên bố: ‘Các lậu hoặc của tôi đã đoạn tận.’

Hơn nữa, tâm của một Tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc hướng về, xuôi về, nghiêng về sự viễn ly (seclusion / sự xa lánh, sống một mình). Họ ẩn dật, yêu thích sự xuất ly, và đã hoàn toàn loại trừ các ảnh hưởng ô nhiễm. Đây là một sức mạnh mà một Tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc dựa vào để tuyên bố: ‘Các lậu hoặc của tôi đã đoạn tận.’

Hơn nữa, một Tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc đã phát triển tốt bốn pháp quán niệm xứ (four kinds of mindfulness meditation / bốn lĩnh vực quán chiếu: thân, thọ, tâm, pháp). Đây là một sức mạnh mà một Tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc dựa vào để tuyên bố: ‘Các lậu hoặc của tôi đã đoạn tận.’

Hơn nữa, một Tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc đã phát triển tốt bốn thần túc (four bases of psychic power / bốn nền tảng của năng lực siêu nhiên: dục, tinh tấn, tâm, thẩm)... năm căn (five faculties / năm năng lực tinh thần: tín, tấn, niệm, định, tuệ)... bảy giác chi (seven awakening factors / bảy yếu tố của sự giác ngộ: niệm, trạch pháp, tinh tấn, hỷ, khinh an, định, xả)... Bát Chánh Đạo (noble eightfold path / con đường tám nhánh cao thượng: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định). Đây là một sức mạnh mà một Tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc dựa vào để tuyên bố: ‘Các lậu hoặc của tôi đã đoạn tận.’

Một Tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc có tám sức mạnh này để có thể tuyên bố: ‘Các lậu hoặc của tôi đã đoạn tận.’"

AN 8.29 Những cơ hội bị bỏ lỡ Akkhaṇasutta

"‘Bây giờ là lúc! Bây giờ là lúc!’ Một người phàm phu ít học nói như vậy. Nhưng họ không biết đó có phải là lúc hay không. Này các Tỳ kheo, có tám cơ hội bị bỏ lỡ để tu tập tâm linh (tám phi thời, không phải cơ hội để tu tập phạm hạnh). Tám cơ hội đó là gì?

Thứ nhất, một Đấng Như Lai đã xuất hiện trên thế gian—bậc A La Hán (perfected / người đã hoàn thiện, diệt tận phiền não), Chánh Đẳng Chánh Giác (a fully awakened Buddha / bậc giác ngộ hoàn toàn và chân chính), Minh Hạnh Túc (accomplished in knowledge and conduct / đầy đủ trí tuệ và đức hạnh), Thiện Thệ (holy / đấng đã đi qua một cách tốt đẹp), Thế Gian Giải (knower of the world / người hiểu biết thế gian), Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu (supreme guide for those who wish to train / bậc thầy tối cao huấn luyện những người cần được huấn luyện), Thiên Nhân Sư (teacher of gods and humans / thầy của trời và người), Phật (awakened / bậc giác ngộ), Thế Tôn (blessed / đấng được tôn kính). Ngài dạy Giáo Pháp đưa đến sự an tịnh, Niết Bàn (extinguishment / sự kết thúc hoàn toàn khổ đau), giác ngộ, như được Đấng Thiện Thệ tuyên thuyết. Nhưng một người đã tái sinh vào địa ngục (hell / cõi khổ đau cùng cực). Đây là cơ hội bị bỏ lỡ thứ nhất để tu tập tâm linh.

Hơn nữa, một Đấng Như Lai đã xuất hiện trên thế gian. Nhưng một người đã tái sinh vào cõi súc sinh (animal realm / cõi của các loài vật). Đây là cơ hội bị bỏ lỡ thứ hai.

Hơn nữa, một Đấng Như Lai đã xuất hiện trên thế gian. Nhưng một người đã tái sinh vào cõi ngạ quỷ (ghost realm / cõi của những chúng sinh đói khổ). Đây là cơ hội bị bỏ lỡ thứ ba.

Hơn nữa, một Đấng Như Lai đã xuất hiện trên thế gian. Nhưng một người đã tái sinh vào một trong các cõi trời trường thọ (long-lived / sống lâu). Đây là cơ hội bị bỏ lỡ thứ tư.

Hơn nữa, một Đấng Như Lai đã xuất hiện trên thế gian. Nhưng một người đã tái sinh ở vùng biên địa, giữa những người ngoại quốc không có học thức, nơi các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ không đến. Đây là cơ hội bị bỏ lỡ thứ năm...

Hơn nữa, một Đấng Như Lai đã xuất hiện trên thế gian. Và một người được tái sinh ở trung tâm quốc. Nhưng họ có tà kiến (wrong view / cái thấy sai lầm) và nhận thức sai lệch: ‘Không có ý nghĩa gì trong việc cho đi, cúng dường, hay lễ vật. Không có quả báo của việc làm tốt và xấu. Không có đời sau. Không có cái gọi là cha mẹ, hay chúng sinh được tái sinh tự nhiên. Và không có sa môn hay bà la môn nào hành xử đúng đắn và thực hành đúng đắn, và mô tả đời sau sau khi tự mình chứng ngộ bằng tuệ giác của mình.’ Đây là cơ hội bị bỏ lỡ thứ sáu...

Hơn nữa, một Đấng Như Lai đã xuất hiện trên thế gian. Và một người được tái sinh ở trung tâm quốc. Nhưng họ ngu si, đần độn, khờ khạo, và không có khả năng phân biệt điều gì được nói hay, điều gì được nói dở. Đây là cơ hội bị bỏ lỡ thứ bảy...

Hơn nữa, một Đấng Như Lai chưa xuất hiện trên thế gian... Vì vậy, Ngài không dạy Giáo Pháp đưa đến sự an tịnh, Niết Bàn, giác ngộ, như được Đấng Thiện Thệ tuyên thuyết. Và một người được tái sinh ở trung tâm quốc. Và họ có trí tuệ, sáng dạ, thông minh, và có khả năng phân biệt điều gì được nói hay, điều gì được nói dở. Đây là cơ hội bị bỏ lỡ thứ tám...

Có tám cơ hội bị bỏ lỡ này để tu tập tâm linh.

Này các Tỳ kheo, chỉ có một cơ hội duy nhất để tu tập tâm linh. Cơ hội đó là gì? Đó là khi một Đấng Như Lai đã xuất hiện trên thế gian, bậc A La Hán, Chánh Đẳng Chánh Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn. Ngài dạy Giáo Pháp đưa đến sự an tịnh, Niết Bàn, giác ngộ, như được Đấng Thiện Thệ tuyên thuyết. Và một người được tái sinh ở trung tâm quốc. Và họ có trí tuệ, sáng dạ, thông minh, và có khả năng phân biệt điều gì được nói hay, điều gì được nói dở. Đây là cơ hội duy nhất để tu tập tâm linh.

Khi đã được thân người,
Và Chánh Pháp đã được tuyên thuyết thật hay,
Những ai không nắm bắt cơ hội
Là đang lãng phí thời gian của mình.

Vì nhiều phi thời được nói đến,
Cản trở con đường tu tập.
Chỉ trong những dịp hiếm hoi
Các Đấng Như Lai mới xuất hiện.

Nếu con gặp được các Ngài,
Vốn rất khó gặp trên đời,
Và nếu con đã được thân người,
Và được nghe lời dạy của Giáo Pháp;
Điều đó đủ để nỗ lực,
Đối với người quan tâm đến lợi ích của chính mình.

Làm sao để hiểu được Chánh Pháp
Để cơ hội không trôi qua mất?
Vì nếu con bỏ lỡ cơ hội của mình
Con sẽ đau buồn khi bị đọa địa ngục.

Nếu con không đạt được
Sự vững chắc đối với Chánh Pháp
Con sẽ hối tiếc trong một thời gian dài,
Như người lái buôn trong câu chuyện quá khứ.

Một người bị vô minh che lấp,
Thất bại trong Chánh Pháp,
Sẽ phải trải qua lâu dài
Sự luân hồi sinh tử.

Những ai đã được thân người
Khi Chánh Pháp đã được tuyên thuyết thật hay,
Và đã hoàn thành những gì Bậc Đạo Sư đã dạy—
Hoặc sẽ làm, hoặc đang làm bây giờ—

Đã nhận ra đúng thời điểm trên thế gian
Cho đời sống phạm hạnh tối thượng.
Con nên sống phòng hộ, luôn tỉnh thức,
Không bị lậu hoặc làm ung nhọt,

Giữa những người có sự chế ngự
Đã thực hành con đường
Do Đấng Như Lai, Đấng Mắt Sáng tuyên thuyết,
Và được dạy bởi người bà con của mặt trời.

Sau khi cắt đứt mọi ngủ ngầm (underlying tendencies / những khuynh hướng tiềm ẩn trong tâm, như tham, sân, si)
Theo sau những kẻ trôi dạt trong lãnh địa của Ma vương (Māra's dominion / quyền lực của Ác ma),
Họ là những người trên thế gian này
>Đã thực sự vượt qua,
Đã đạt đến sự đoạn tận các lậu hoặc."

AN 8.30 A-nu-lâu-đà và những Suy Tư Lớn Anuruddhamahāvitakkasutta

Một thời Đức Phật trú tại xứ Bhaggas ở Đồi Cá Sấu, trong vườn nai ở Rừng Bhesakaḷā. Và vào lúc đó, Tôn giả A-nu-lâu-đà đang trú tại xứ Cetīs trong Công viên Trúc Lâm phía Đông. Bấy giờ, khi Tôn giả A-nu-lâu-đà đang độc cư thiền định, ý nghĩ này khởi lên trong tâm ngài:

"Giáo Pháp này dành cho những người ít mong muốn, không phải cho những người nhiều mong muốn. Nó dành cho người biết đủ, không phải cho những người không biết đủ. Nó dành cho người sống độc cư, không phải cho những người thích sống quần tụ. Nó dành cho người siêng năng, không phải cho người lười biếng. Nó dành cho người có tỉnh thức, không phải cho người thất niệm. Nó dành cho người có thiền định (immersion / sự tập trung sâu của tâm, định tâm), không phải cho người không có thiền định. Nó dành cho người có trí tuệ, không phải cho người vô trí."

Bấy giờ, Đức Phật biết được Tôn giả A-nu-lâu-đà đang suy nghĩ gì. Nhanh như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại hay co cánh tay đang duỗi ra, Ngài biến mất khỏi vườn nai ở Rừng Bhesakaḷā xứ Bhaggas và xuất hiện trước mặt Tôn giả A-nu-lâu-đà tại Công viên Trúc Lâm phía Đông xứ Cetīs, rồi ngồi vào chỗ đã soạn sẵn. Tôn giả A-nu-lâu-đà đảnh lễ Đức Phật rồi ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với ngài:

"Lành thay, lành thay, A-nu-lâu-đà! Thật tốt khi con suy ngẫm về những suy tư này của bậc đại nhân: ‘Giáo Pháp này dành cho những người ít mong muốn, không phải cho những người nhiều mong muốn. Nó dành cho người biết đủ, không phải cho những người không biết đủ. Nó dành cho người sống độc cư, không phải cho những người thích sống quần tụ. Nó dành cho người siêng năng, không phải cho người lười biếng. Nó dành cho người có tỉnh thức, không phải cho người thất niệm. Nó dành cho người có thiền định, không phải cho người không có thiền định. Nó dành cho người có trí tuệ, không phải cho người vô trí.’ Vậy thì, A-nu-lâu-đà, con cũng nên suy ngẫm về suy tư thứ tám sau đây của bậc đại nhân: ‘Giáo Pháp này dành cho những người không thích sự hý luận (proliferating / sự suy diễn, nói nhiều, làm phức tạp vấn đề) và không ưa thích sự hý luận, không phải cho những người thích sự hý luận và ưa thích sự hý luận.’

Trước tiên con sẽ suy ngẫm về tám suy tư này của bậc đại nhân. Sau đó, bất cứ khi nào con muốn, hoàn toàn ly dục, ly bất thiện pháp, con sẽ nhập và an trú sơ thiền (first absorption / tầng thiền thứ nhất), một trạng thái vui vẻ và an vui do ly dục sinh, có tầm (placing the mind / sự hướng tâm đến đối tượng) và tứ (keeping it connected / sự duy trì tâm trên đối tượng).

Con sẽ nhập và an trú nhị thiền (second absorption / tầng thiền thứ hai), một trạng thái vui vẻ và an vui do định sinh, nội tĩnh nhất tâm, không tầm không tứ.

Con sẽ nhập và an trú tam thiền (third absorption / tầng thiền thứ ba), nơi con sẽ thiền với tâm xả (equanimity / sự bình thản, không thiên vị), tỉnh thức và nhận biết, tự thân cảm nhận sự an vui mà các bậc Thánh tuyên bố: ‘Xả niệm trú lạc, người ấy thiền trong an vui.’

Từ bỏ lạc và khổ, chấm dứt hỷ và ưu trước đó, con sẽ nhập và an trú tứ thiền (fourth absorption / tầng thiền thứ tư), không khổ không lạc, với xả niệm thanh tịnh.

Trước tiên con sẽ suy ngẫm về tám suy tư này của bậc đại nhân, và con sẽ đạt được bốn tầng thiền—những pháp thiền định mang lại an vui trong đời này, thuộc về tăng thượng tâm (higher mind / tâm cao thượng, tâm đã được phát triển)—bất cứ khi nào con muốn, không khó khăn hay trở ngại. Sau đó, khi con sống biết đủ, chiếc y phấn tảo của con sẽ giống như một rương đầy y phục nhiều màu sắc đối với một gia chủ hay con của gia chủ. Nó sẽ mang lại cho con sự thích thú, nhẹ nhõm, thoải mái, và để hướng đến Niết Bàn.

Khi con sống biết đủ, những miếng vật thực khất thực của con sẽ giống như cơm nấu từ gạo ngon đã loại bỏ hạt đen, dùng với nhiều loại canh và thức chấm đối với một gia chủ hay con của gia chủ. Nó sẽ mang lại cho con sự thích thú, nhẹ nhõm, thoải mái, và để hướng đến Niết Bàn.

Khi con sống biết đủ, chỗ ở dưới gốc cây của con sẽ giống như một ngôi nhà một tầng, trát vữa trong ngoài, kín gió, cửa đóng then cài, cửa sổ đóng kín đối với một gia chủ hay con của gia chủ. Nó sẽ mang lại cho con sự thích thú, nhẹ nhõm, thoải mái, và để hướng đến Niết Bàn.

Khi con sống biết đủ, chỗ ở dưới gốc cây của con sẽ giống như chiếc giường dài phủ khăn len – có lông xù, màu trắng tinh, hoặc thêu hoa – và trải một tấm da nai tốt, có mái che ở trên và gối đỏ ở hai đầu đối với một gia chủ hay con của gia chủ. Nó sẽ mang lại cho con sự thích thú, nhẹ nhõm, thoải mái, và để hướng đến Niết Bàn.

Khi con sống biết đủ, nước tiểu mục làm thuốc của con sẽ giống như các loại thuốc khác nhau—bơ lỏng, bơ đặc, dầu, mật ong, và mật đường—đối với một gia chủ hay con của gia chủ. Nó sẽ mang lại cho con sự thích thú, nhẹ nhõm, thoải mái, và để hướng đến Niết Bàn. Vậy thì, A-nu-lâu-đà, trong mùa an cư mưa tới, con nên ở lại ngay tại đây, tại xứ Cetīs trong Công viên Trúc Lâm phía Đông."

"Vâng, thưa Thế Tôn," Tôn giả A-nu-lâu-đà đáp.

Sau khi khuyên dạy Tôn giả A-nu-lâu-đà như vậy, Đức Phật—nhanh như một người lực sĩ duỗi cánh tay đang co lại hay co cánh tay đang duỗi ra—biến mất khỏi Công viên Trúc Lâm phía Đông xứ Cetīs và xuất hiện trở lại tại vườn nai ở Rừng Bhesakaḷā xứ Bhaggas. Ngài ngồi vào chỗ đã soạn sẵn và gọi các Tỳ kheo: "Này các Tỳ kheo, Ta sẽ dạy các con tám suy tư của bậc đại nhân. Hãy lắng nghe...

Và tám suy tư của bậc đại nhân là gì? Giáo Pháp này dành cho những người ít mong muốn, không phải cho những người nhiều mong muốn. Nó dành cho người biết đủ, không phải cho những người không biết đủ. Nó dành cho người sống độc cư, không phải cho những người thích sống quần tụ. Nó dành cho người siêng năng, không phải cho người lười biếng. Nó dành cho người có tỉnh thức, không phải cho người thất niệm. Nó dành cho người có thiền định, không phải cho người không có thiền định. Nó dành cho người có trí tuệ, không phải cho người vô trí. Nó dành cho những người không thích sự hý luận và không ưa thích sự hý luận, không phải cho những người thích sự hý luận và ưa thích sự hý luận.

‘Giáo Pháp này dành cho những người ít mong muốn, không phải cho những người nhiều mong muốn.’ Đó là những gì Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Một Tỳ kheo ít mong muốn không mong muốn: ‘Mong sao họ biết ta là người ít mong muốn!’ Khi biết đủ, họ không mong muốn: ‘Mong sao họ biết ta là người biết đủ!’ Khi sống độc cư, họ không mong muốn: ‘Mong sao họ biết ta là người sống độc cư!’ Khi siêng năng, họ không mong muốn: ‘Mong sao họ biết ta là người siêng năng!’ Khi có tỉnh thức, họ không mong muốn: ‘Mong sao họ biết ta là người có tỉnh thức!’ Khi có thiền định, họ không mong muốn: ‘Mong sao họ biết ta là người có thiền định!’ Khi có trí tuệ, họ không mong muốn: ‘Mong sao họ biết ta là người có trí tuệ!’ Khi không thích sự hý luận, họ không mong muốn: ‘Mong sao họ biết ta là người không thích sự hý luận!’ ‘Giáo Pháp này dành cho những người ít mong muốn, không phải cho những người nhiều mong muốn.’ Đó là những gì Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.

‘Giáo Pháp này dành cho người biết đủ, không phải cho những người không biết đủ.’ Đó là những gì Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Nó dành cho một Tỳ kheo biết đủ với bất kỳ loại y phục, vật thực khất thực, chỗ ở, và thuốc men cùng vật dụng cho người bệnh nào. ‘Giáo Pháp này dành cho người biết đủ, không phải cho những người không biết đủ.’ Đó là những gì Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.

‘Giáo Pháp này dành cho người sống độc cư, không phải cho những người thích sống quần tụ.’ Đó là những gì Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Nó dành cho một Tỳ kheo sống độc cư. Nhưng các Tỳ kheo, Tỳ kheo ni, nam cư sĩ, nữ cư sĩ, vua chúa và các vị đại thần của họ, các tu sĩ của các tôn giáo khác và đệ tử của họ đến thăm vị ấy. Với tâm hướng về, xuôi về, nghiêng về sự viễn ly, ẩn dật, và yêu thích sự xuất ly, vị Tỳ kheo đó luôn luôn nói chuyện với mỗi người trong số họ, nhấn mạnh chủ đề về sự từ bỏ. ‘Giáo Pháp này dành cho người sống độc cư, không phải cho những người thích sống quần tụ.’ Đó là những gì Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.

‘Giáo Pháp này dành cho người siêng năng, không phải cho người lười biếng.’ Đó là những gì Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Nó dành cho một Tỳ kheo sống với năng lực được khơi dậy để từ bỏ các bất thiện pháp và đón nhận các thiện pháp. Họ mạnh mẽ, kiên trì, không lơi lỏng trong việc phát triển các thiện pháp. ‘Giáo Pháp này dành cho người siêng năng, không phải cho người lười biếng.’ Đó là những gì Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.

‘Giáo Pháp này dành cho người có tỉnh thức, không phải cho người thất niệm.’ Đó là những gì Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Nó dành cho một Tỳ kheo có tỉnh thức. Họ có sự tỉnh thức và nhận biết ở mức độ cao nhất, và có thể nhớ và gợi lại những gì đã nói và làm từ lâu. ‘Giáo Pháp này dành cho người có tỉnh thức, không phải cho người thất niệm.’ Đó là những gì Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.

‘Giáo Pháp này dành cho người có thiền định, không phải cho người không có thiền định.’ Đó là những gì Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Nó dành cho một Tỳ kheo, hoàn toàn ly dục, ly bất thiện pháp, nhập và an trú sơ thiền... nhị thiền... tam thiền... tứ thiền. ‘Giáo Pháp này dành cho người có thiền định, không phải cho người không có thiền định.’ Đó là những gì Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.

‘Giáo Pháp này dành cho người có trí tuệ, không phải cho người vô trí.’ Đó là những gì Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Nó dành cho một Tỳ kheo có trí tuệ. Họ có trí tuệ về sự sinh diệt, một trí tuệ cao thượng, có khả năng thâm nhập, và dẫn đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau. ‘Giáo Pháp này dành cho người có trí tuệ, không phải cho người vô trí.’ Đó là những gì Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy.

‘Giáo Pháp này dành cho những người không thích sự hý luận và không ưa thích sự hý luận, không phải cho những người thích sự hý luận và ưa thích sự hý luận.’ Đó là những gì Ta đã nói, nhưng tại sao Ta lại nói vậy? Nó dành cho một Tỳ kheo có tâm hân hoan, vững tin, lắng dịu, và quyết định đối với sự chấm dứt hý luận. ‘Giáo Pháp này dành cho những người không thích sự hý luận và không ưa thích sự hý luận, không phải cho những người thích sự hý luận và ưa thích sự hý luận.’ Đó là những gì Ta đã nói, và đây là lý do tại sao Ta nói vậy."

Sau đó, Tôn giả A-nu-lâu-đà đã an cư mùa mưa tiếp theo ngay tại xứ Cetīs trong Công viên Trúc Lâm phía Đông. Và Tôn giả A-nu-lâu-đà, sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm, và quyết chí, chẳng bao lâu đã chứng ngộ mục tiêu tối thượng của đời sống phạm hạnh ngay trong đời này. Ngài đã sống, tự mình chứng ngộ bằng tuệ giác mục đích mà vì đó các thiện nam tử chân chính xuất gia từ bỏ đời sống gia đình, sống không gia đình.

Ngài hiểu rõ: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa." Và Tôn giả A-nu-lâu-đà trở thành một trong những bậc A La Hán. Và nhân dịp chứng đắc A La Hán quả, ngài đã đọc những câu kệ này:

"Biết được ý nghĩ của tôi,
Bậc Đạo Sư tối thượng trên đời
Đã đến với tôi bằng thân do ý tạo,
Sử dụng thần lực của Ngài.

Ngài dạy tôi nhiều hơn
Những gì tôi đã nghĩ đến.
Đức Phật, người yêu thích sự không hý luận
Đã dạy tôi về sự không hý luận.

Hiểu được lời dạy đó,
Tôi vui vẻ làm theo lời Ngài.
Tôi đã đạt được tam minh (three knowledges / ba loại tuệ giác: túc mạng minh, thiên nhãn minh, lậu tận minh),
Và đã hoàn thành lời dạy của Đức Phật."