Phẩm về Gotamī
AN 8.51 Kinh Gotamī Gotamīsutta
Một thời Đức Phật trú ở xứ Thích-ca (Sakyan), gần Ca-tỳ-la-vệ (Kapilavatthu), tại Tu viện Cây Đa. Bấy giờ, bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề Gotamī (Mahāpajāpati Gotamī) đến đảnh lễ Đức Phật, đứng sang một bên và bạch rằng:
"Bạch Thế Tôn, xin hãy cho phép nữ giới được xuất gia (going forth / rời bỏ đời sống gia đình để sống không nhà) từ đời sống tại gia vào đời sống không nhà trong giáo pháp và giới luật (teaching and training / lời dạy và các quy tắc thực hành) do Bậc Giác Ngộ (Realized One / người đã đạt được sự giác ngộ hoàn toàn, chỉ Đức Phật) tuyên thuyết."
"Thôi đi, Gotamī. Đừng tán thành việc nữ giới xuất gia từ đời sống tại gia vào đời sống không nhà trong giáo pháp và giới luật do Bậc Giác Ngộ tuyên thuyết."
Lần thứ hai...
Lần thứ ba, bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề Gotamī bạch Đức Phật:
"Bạch Thế Tôn, xin hãy cho phép nữ giới được xuất gia từ đời sống tại gia vào đời sống không nhà trong giáo pháp và giới luật do Bậc Giác Ngộ tuyên thuyết."
"Thôi đi, Gotamī. Đừng tán thành việc nữ giới xuất gia từ đời sống tại gia vào đời sống không nhà trong giáo pháp và giới luật do Bậc Giác Ngộ tuyên thuyết."
Bấy giờ, bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề Gotamī nghĩ: "Đức Phật không cho phép nữ giới xuất gia." Buồn bã, đau khổ, khóc lóc, mặt đẫm lệ, bà đảnh lễ Đức Phật, đi quanh Ngài theo chiều bên phải trong sự kính trọng, rồi rời đi.
Sau khi Đức Phật đã trú ở Ca-tỳ-la-vệ tùy ý, Ngài lên đường đi đến Tỳ-xá-ly (Vesālī). Đi từng chặng, Ngài đến Tỳ-xá-ly, và trú tại Đại Lâm (Great Wood), trong Trùng Các Giảng Đường. Bấy giờ, bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề Gotamī cạo tóc, đắp y phấn tảo (ocher robes / y phục màu đất của tu sĩ Phật giáo). Cùng với nhiều phụ nữ dòng Thích-ca khác, bà lên đường đi Tỳ-xá-ly. Đi từng chặng, bà đến Tỳ-xá-ly và đi đến Đại Lâm, Trùng Các Giảng Đường. Lúc ấy, bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề Gotamī đứng khóc ngoài cổng, chân sưng phù, thân mình lấm bụi, buồn bã, đau khổ, mặt đẫm lệ.
Tôn giả A-nan (Ānanda) thấy bà đứng đó, liền hỏi: "Này Gotamī, vì sao bà đứng khóc ngoài cổng, chân sưng phù, thân mình lấm bụi, buồn bã, đau khổ, mặt đẫm lệ như vậy?"
"Thưa Tôn giả A-nan, ấy là vì Đức Phật không cho phép nữ giới xuất gia trong giáo pháp và giới luật do Bậc Giác Ngộ tuyên thuyết."
"Vậy thì, Gotamī, bà hãy đợi ở đây một lát, tôi sẽ vào thỉnh cầu Đức Phật cho phép nữ giới xuất gia."
Rồi Tôn giả A-nan đi đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và bạch rằng:
"Bạch Thế Tôn, bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề Gotamī đang đứng khóc ngoài cổng, chân sưng phù, thân mình lấm bụi, buồn bã, đau khổ, mặt đẫm lệ. Bà ấy nói rằng ấy là vì Đức Phật không cho phép nữ giới xuất gia. Bạch Thế Tôn, xin hãy cho phép nữ giới được xuất gia từ đời sống tại gia vào đời sống không nhà trong giáo pháp và giới luật do Bậc Giác Ngộ tuyên thuyết."
"Thôi đi, A-nan. Đừng tán thành việc nữ giới xuất gia từ đời sống tại gia vào đời sống không nhà trong giáo pháp và giới luật do Bậc Giác Ngộ tuyên thuyết."
Lần thứ hai...
Lần thứ ba, Tôn giả A-nan bạch Đức Phật:
"Bạch Thế Tôn, xin hãy cho phép nữ giới được xuất gia từ đời sống tại gia vào đời sống không nhà trong giáo pháp và giới luật do Bậc Giác Ngộ tuyên thuyết."
"Thôi đi, A-nan. Đừng tán thành việc nữ giới xuất gia từ đời sống tại gia vào đời sống không nhà trong giáo pháp và giới luật do Bậc Giác Ngộ tuyên thuyết."
Bấy giờ, Tôn giả A-nan nghĩ: "Đức Phật không cho phép nữ giới xuất gia. Sao ta không thử một cách khác?"
Rồi Tôn giả A-nan bạch Đức Phật: "Bạch Thế Tôn, một người nữ, sau khi đã xuất gia, có khả năng chứng ngộ các quả Dự lưu, Nhất lai, Bất lai và A-la-hán (fruits of stream-entry, once-return, non-return, and perfection / các quả vị thánh đạt được qua tu tập) không?"
"Có thể, này A-nan."
"Bạch Thế Tôn, nếu một người nữ, sau khi đã xuất gia, có khả năng chứng ngộ các quả Dự lưu, Nhất lai, Bất lai và A-la-hán. Bạch Thế Tôn, bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề đã giúp đỡ Đức Thế Tôn rất nhiều. Bà là dì của Ngài, người đã nuôi nấng, chăm sóc, cho Ngài bú sữa. Khi thân mẫu của Đức Thế Tôn qua đời, chính bà đã nuôi Ngài bằng dòng sữa của mình. Bạch Thế Tôn, xin hãy cho phép nữ giới được xuất gia từ đời sống tại gia vào đời sống không nhà trong giáo pháp và giới luật do Bậc Giác Ngộ tuyên thuyết."
"Này A-nan, nếu Ma-ha Ba-xà-ba-đề Gotamī chấp nhận tám bát kỉnh pháp (principles of respect / tám điều tôn trọng mà Ni giới phải tuân thủ đối với Tăng giới) này, đó sẽ là sự thọ giới (ordination / nghi lễ chính thức trở thành tu sĩ) của bà ấy.
Một tỳ-khưu-ni (nun / nữ tu sĩ Phật giáo đã thọ giới cụ túc), dù đã thọ giới một trăm năm, phải đảnh lễ một tỳ-khưu (monk / nam tu sĩ Phật giáo đã thọ giới cụ túc) mới thọ giới trong ngày hôm đó. Vị ấy phải đứng dậy đón chào, chắp tay vái chào, và thực hành các nghi thức phù hợp đối với vị tỳ-khưu ấy. Nguyên tắc này phải được tôn trọng, quý trọng, đề cao và tôn kính, và không được vi phạm cho đến trọn đời.
Một tỳ-khưu-ni không được nhập an cư mùa mưa (rainy season residence / thời gian ba tháng mùa mưa mà tu sĩ ở yên một chỗ để tu tập) tại một trú xứ (monastery / nơi ở của tu sĩ) không có tỳ-khưu. Nguyên tắc này phải được tôn trọng, quý trọng, đề cao và tôn kính, và không được vi phạm cho đến trọn đời.
Mỗi nửa tháng, các tỳ-khưu-ni phải mong đợi hai điều từ Tăng đoàn (community of monks / tập thể các vị tỳ-khưu): ngày Bố-tát (sabbath / ngày tụng giới và sám hối của tu sĩ, thường vào ngày rằm và cuối tháng âm lịch), và việc đến thỉnh cầu giáo giới. Nguyên tắc này phải được tôn trọng, quý trọng, đề cao và tôn kính, và không được vi phạm cho đến trọn đời.
Sau khi mãn hạ an cư mùa mưa, các tỳ-khưu-ni phải thỉnh cầu sự chỉ dạy từ cả hai Tăng đoàn (Tăng và Ni) về bất cứ điều gì đã thấy, đã nghe, hoặc nghi ngờ. Nguyên tắc này phải được tôn trọng, quý trọng, đề cao và tôn kính, và không được vi phạm cho đến trọn đời.
Một tỳ-khưu-ni đã phạm trọng tội (grave offense / tội nặng nhất trong giới luật, có thể dẫn đến mất tư cách tu sĩ) phải chịu hình phạt sám hối trước cả hai Tăng đoàn trong nửa tháng. Nguyên tắc này phải được tôn trọng, quý trọng, đề cao và tôn kính, và không được vi phạm cho đến trọn đời.
Một thức-xoa-ma-na (trainee nun / nữ tu sĩ đang trong giai đoạn tập sự hai năm trước khi thọ giới tỳ-khưu-ni) đã tu học sáu pháp học (six rules / sáu giới luật cơ bản cho thức-xoa-ma-na) trong hai năm phải xin thọ giới cụ túc từ cả hai Tăng đoàn. Nguyên tắc này phải được tôn trọng, quý trọng, đề cao và tôn kính, và không được vi phạm cho đến trọn đời.
Một tỳ-khưu-ni không được mắng nhiếc hay phỉ báng một tỳ-khưu bằng bất cứ cách nào. Nguyên tắc này phải được tôn trọng, quý trọng, đề cao và tôn kính, và không được vi phạm cho đến trọn đời.
Kể từ hôm nay, tỳ-khưu-ni không được phép chỉ trích tỳ-khưu, nhưng tỳ-khưu không bị cấm chỉ trích tỳ-khưu-ni. Nguyên tắc này phải được tôn trọng, quý trọng, đề cao và tôn kính, và không được vi phạm cho đến trọn đời.
Nếu Ma-ha Ba-xà-ba-đề Gotamī chấp nhận tám bát kỉnh pháp này, đó sẽ là sự thọ giới của bà ấy."
Bấy giờ, Tôn giả A-nan, sau khi đã học tám bát kỉnh pháp này từ chính Đức Phật, liền đi đến chỗ bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề Gotamī và nói:
"Này Gotamī, nếu bà chấp nhận tám bát kỉnh pháp, đó sẽ là sự thọ giới của bà.
Một tỳ-khưu-ni, dù đã thọ giới một trăm năm, phải đảnh lễ một tỳ-khưu mới thọ giới trong ngày hôm đó. Vị ấy phải đứng dậy đón chào, chắp tay vái chào, và thực hành các nghi thức phù hợp đối với vị tỳ-khưu ấy. Nguyên tắc này phải được tôn trọng, quý trọng, đề cao và tôn kính, và không được vi phạm cho đến trọn đời. ...
Kể từ hôm nay, tỳ-khưu-ni không được phép chỉ trích tỳ-khưu, nhưng tỳ-khưu không bị cấm chỉ trích tỳ-khưu-ni. Nguyên tắc này phải được tôn trọng, quý trọng, đề cao và tôn kính, và không được vi phạm cho đến trọn đời. Nếu bà chấp nhận tám bát kỉnh pháp này, đó sẽ là sự thọ giới của bà."
"Thưa Tôn giả A-nan, ví như có một người nữ hay người nam còn trẻ, thanh xuân, thích trang điểm, đã gội đầu sạch sẽ. Sau khi nhận được một vòng hoa sen, hoa lài, hay hoa dây leo, họ sẽ nâng niu bằng hai tay và đặt lên đỉnh đầu. Cũng vậy, thưa Tôn giả, tôi xin chấp nhận tám bát kỉnh pháp này, không vi phạm cho đến trọn đời."
Rồi Tôn giả A-nan đi đến chỗ Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và bạch Đức Phật:
"Bạch Thế Tôn, bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề Gotamī đã chấp nhận tám bát kỉnh pháp, không vi phạm cho đến trọn đời."
"Này A-nan, nếu nữ giới không được xuất gia từ đời sống tại gia vào đời sống không nhà trong giáo pháp và giới luật do Bậc Giác Ngộ tuyên thuyết, thì đời sống phạm hạnh (spiritual life / đời sống tu tập thanh tịnh) này sẽ kéo dài. Chánh pháp (true teaching / lời dạy chân chính của Đức Phật) sẽ tồn tại một ngàn năm. Nhưng vì họ đã được xuất gia, nên bây giờ đời sống phạm hạnh sẽ không kéo dài. Chánh pháp sẽ chỉ tồn tại năm trăm năm.
Ví như những gia đình có nhiều phụ nữ và ít đàn ông. Họ dễ trở thành mồi ngon cho kẻ cướp và trộm cắp. Cũng vậy, đời sống phạm hạnh không kéo dài trong một giáo pháp và giới luật mà nữ giới được xuất gia.
Ví như một cánh đồng lúa chín rộ. Một khi bị bệnh 'xương trắng' tấn công, nó sẽ không tồn tại lâu. Cũng vậy, đời sống phạm hạnh không kéo dài trong một giáo pháp và giới luật mà nữ giới được xuất gia.
Ví như một cánh đồng mía. Một khi bị bệnh 'thối đỏ' tấn công, nó sẽ không tồn tại lâu. Cũng vậy, đời sống phạm hạnh không kéo dài trong một giáo pháp và giới luật mà nữ giới được xuất gia.
Như một người xây con đê quanh một hồ nước lớn để đề phòng nước tràn bờ, cũng vậy, để đề phòng, Ta đã quy định tám bát kỉnh pháp này không được vi phạm cho đến trọn đời."
AN 8.52 Vị Giáo Thọ Sư cho Tỳ-khưu-ni Ovādasutta
Một thời Đức Phật trú gần Tỳ-xá-ly, tại Đại Lâm, trong Trùng Các Giảng Đường. Bấy giờ, Tôn giả A-nan đến đảnh lễ Đức Phật, ngồi xuống một bên và bạch rằng:
"Bạch Thế Tôn, một vị tỳ-khưu cần có bao nhiêu phẩm chất để được xem là giáo thọ sư cho tỳ-khưu-ni (adviser for nuns / vị tỳ-khưu được chỉ định để dạy dỗ Ni đoàn)?"
"Này A-nan, một vị tỳ-khưu có tám phẩm chất có thể được xem là giáo thọ sư cho tỳ-khưu-ni. Tám phẩm chất đó là gì?
Thứ nhất, vị tỳ-khưu có giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức), thu thúc trong giới bổn (restrained in the monastic code / sống có kiểm soát theo các giới luật của tu sĩ), có hạnh kiểm tốt và đi khất thực ở những nơi thích hợp. Thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt nhất, vị ấy giữ gìn các học giới đã thọ nhận.
Vị ấy là người đa văn (learned / người học rộng, nghe nhiều giáo pháp), ghi nhớ và nắm giữ những gì đã học. Những lời dạy này tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, và tốt đẹp ở đoạn cuối, có ý nghĩa và văn cú hoàn hảo, mô tả một đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh. Vị ấy rất thông thạo những lời dạy như vậy, ghi nhớ chúng, tụng đọc chúng, thẩm sát bằng tâm ý, và thông hiểu bằng trí tuệ.
Cả hai bộ giới (Pātimokkha của Tăng và Ni) đã được truyền thừa cho vị ấy một cách chi tiết, được phân tích kỹ lưỡng, nắm vững, đánh giá đúng đắn cả về giới luật và các phần phụ chú.
Vị ấy là người thiện ngôn (good speaker / người nói lời hay, khéo nói), phát âm rõ ràng. Giọng nói tao nhã, trong sáng, khúc chiết, và diễn đạt được ý nghĩa.
Vị ấy có khả năng giáo huấn, khích lệ, làm phấn khởi, và truyền cảm hứng cho Ni đoàn (community of nuns / tập thể các vị tỳ-khưu-ni).
Vị ấy được hầu hết các tỳ-khưu-ni yêu mến và chấp nhận.
Vị ấy chưa từng quấy rối tình dục bất kỳ người nữ nào đắp y phấn tảo đã xuất gia nhân danh Đức Phật.
Vị ấy đã thọ giới cụ túc được hai mươi năm hạ hoặc hơn.
Một vị tỳ-khưu có tám phẩm chất này có thể được xem là giáo thọ sư cho tỳ-khưu-ni."
AN 8.53 Lời Khuyên Ngắn Gọn cho Gotamī Saṁkhittasutta
Một thời Đức Phật trú gần Tỳ-xá-ly, tại Đại Lâm, trong Trùng Các Giảng Đường. Bấy giờ, bà Ma-ha Ba-xà-ba-đề Gotamī đến đảnh lễ Đức Phật, đứng sang một bên và bạch rằng:
"Bạch Thế Tôn, xin Đức Phật hãy dạy Pháp (Dhamma / Lời dạy của Đức Phật, chân lý) cho con một cách ngắn gọn. Sau khi nghe xong, con sẽ sống một mình, ẩn dật, tinh cần, nhiệt tâm, quyết chí (diligent, keen, and resolute / siêng năng, hăng hái và có ý chí mạnh mẽ)."
"Này Gotamī, bà có thể biết rằng những pháp nào đưa đến tham ái (passion / sự ham muốn, luyến ái), không đưa đến ly tham (dispassion / sự không còn ham muốn, luyến ái); đưa đến sự trói buộc (yoking / sự ràng buộc vào khổ đau, phiền não), không đưa đến sự giải thoát (unyoking / sự cởi bỏ trói buộc, thoát khỏi khổ đau); đưa đến sự tích lũy (accumulation / sự vun đắp phiền não, nghiệp báo), không đưa đến sự tiêu tán (dispersal / sự làm tan biến phiền não, nghiệp báo); đưa đến nhiều ham muốn, không đưa đến ít ham muốn; đưa đến không biết đủ, không đưa đến biết đủ; đưa đến sống chung đụng, không đưa đến sống độc cư; đưa đến lười biếng, không đưa đến nghị lực (energy / sự siêng năng, cố gắng); đưa đến khó nuôi dưỡng, không đưa đến dễ nuôi dưỡng. Bà nên chắc chắn ghi nhớ rằng những pháp ấy không phải là giáo pháp, không phải là giới luật, và không phải là lời dạy của Bậc Đạo Sư.
Bà có thể biết rằng những pháp nào đưa đến ly tham, không đưa đến tham ái; đưa đến sự giải thoát, không đưa đến sự trói buộc; đưa đến sự tiêu tán, không đưa đến sự tích lũy; đưa đến ít ham muốn, không đưa đến nhiều ham muốn; đưa đến biết đủ, không đưa đến không biết đủ; đưa đến sống độc cư, không đưa đến sống chung đụng; đưa đến nghị lực, không đưa đến lười biếng; đưa đến dễ nuôi dưỡng, không đưa đến khó nuôi dưỡng. Bà nên chắc chắn ghi nhớ rằng những pháp ấy chính là giáo pháp, là giới luật, và là lời dạy của Bậc Đạo Sư."
AN 8.54 Kinh Dīghajāṇu Dīghajāṇusutta
Một thời Đức Phật trú ở xứ Câu-ly (Koliyan), nơi có một thị trấn tên là Kakkarapatta. Bấy giờ, Dīghajāṇu người Câu-ly đến đảnh lễ Đức Phật, ngồi xuống một bên và bạch rằng:
"Bạch Thế Tôn, chúng con là những cư sĩ tại gia (laypeople / người Phật tử sống tại nhà), hưởng thụ dục lạc (sensual pleasures / sự vui thú qua năm giác quan) và sống ở nhà với con cái. Chúng con dùng gỗ đàn hương nhập từ xứ Kāsi, chúng con đeo vòng hoa, dùng hương thơm và phấn sáp, và chúng con nhận vàng và tiền bạc. Xin Đức Phật hãy dạy Pháp cho chúng con theo cách đưa đến an lạc và hạnh phúc trong đời này và trong các đời sau."
"Này Byagghapajja, bốn pháp này đưa đến an lạc và hạnh phúc cho một người thiện gia nam tử (gentleman / người nam có phẩm hạnh tốt) trong đời này. Bốn pháp đó là gì?
Thành tựu về sự khởi xướng (Accomplishment in initiative / sự thành công trong việc bắt đầu và thực hiện công việc), thành tựu về sự bảo vệ (Accomplishment in protection / sự thành công trong việc giữ gìn tài sản), thành tựu về thiện hữu (Accomplishment in good friendship / sự thành công trong việc kết giao bạn tốt), và thành tựu về đời sống quân bình (Accomplishment in balanced finances / sự thành công trong việc chi tiêu cân đối). Thế nào là thành tựu về sự khởi xướng? Đó là khi một người thiện gia nam tử kiếm sống bằng các phương tiện như nông nghiệp, thương mại, chăn nuôi, bắn cung, phục vụ chính quyền, hoặc một trong các nghề nghiệp khác. Vị ấy hiểu biết cách thức tiến hành những việc này để hoàn thành và tổ chức công việc. Đây gọi là thành tựu về sự khởi xướng.
Thế nào là thành tựu về sự bảo vệ? Đó là khi một người thiện gia nam tử sở hữu tài sản hợp pháp mà vị ấy đã kiếm được bằng nỗ lực và sự chủ động của bản thân, gây dựng bằng chính đôi tay mình, thu được bằng mồ hôi công sức. Vị ấy đảm bảo tài sản được canh giữ và bảo vệ, suy nghĩ rằng: 'Làm sao ta có thể ngăn chặn tài sản của mình bị vua quan hay trộm cướp lấy đi, bị lửa thiêu, bị nước cuốn trôi, hoặc bị những người thừa kế không ưa thích chiếm đoạt?' Đây gọi là thành tựu về sự bảo vệ.
Thế nào là thành tựu về thiện hữu? Đó là khi một người thiện gia nam tử cư trú trong một thị trấn hay làng mạc. Và ở nơi đó có những người gia chủ hoặc con cái của họ, có thể trẻ hoặc già, nhưng trưởng thành trong hạnh kiểm, thành tựu về niềm tin, giới đức, lòng rộng rãi, và trí tuệ (accomplished in faith, ethics, generosity, and wisdom / đạt được sự vững chắc trong niềm tin, đạo đức, lòng rộng rãi và sự hiểu biết). Vị ấy kết giao, trò chuyện và tham gia thảo luận với họ. Và vị ấy noi theo những thành tựu tương tự về niềm tin, giới đức, lòng rộng rãi, và trí tuệ. Đây gọi là thành tựu về thiện hữu.
Thế nào là thành tựu về đời sống quân bình? Đó là khi một người thiện gia nam tử, biết rõ thu nhập và chi tiêu của mình, cân đối tài chính, không quá hoang phí cũng không quá keo kiệt. Vị ấy nghĩ: 'Bằng cách này, thu nhập của ta sẽ vượt quá chi tiêu, chứ không ngược lại.' Giống như một người thẩm định giá hoặc người học việc của họ, khi cầm cán cân, biết rằng nó thấp đi bao nhiêu hay cao lên bao nhiêu. Cũng vậy, một người thiện gia nam tử, biết rõ thu nhập và chi tiêu của mình, cân đối tài chính, không quá hoang phí cũng không quá keo kiệt. Vị ấy nghĩ: 'Bằng cách này, thu nhập của ta sẽ vượt quá chi tiêu, chứ không ngược lại.' Nếu một người thiện gia nam tử có ít thu nhập nhưng sống xa hoa, người ta sẽ nói: 'Người thiện gia nam tử này tiêu xài tài sản như người ăn quả sung!' Nếu một người thiện gia nam tử có thu nhập lớn nhưng sống khắc khổ, người ta sẽ nói: 'Người thiện gia nam tử này đang bỏ đói bản thân đến chết!' Nhưng một người thiện gia nam tử, biết rõ thu nhập và chi tiêu của mình, sống một đời sống quân bình, không quá hoang phí cũng không quá keo kiệt, nghĩ rằng: 'Bằng cách này, thu nhập của ta sẽ vượt quá chi tiêu, chứ không ngược lại.' Đây gọi là thành tựu về đời sống quân bình.
Có bốn cửa ngõ làm tiêu hao tài sản đã được thu thập theo cách này. Đam mê nữ sắc, nghiện rượu, cờ bạc, và có bạn xấu, người đồng hành xấu, kẻ liên hệ xấu. Giả sử có một hồ chứa nước lớn với bốn cửa dẫn nước vào và bốn cửa thoát nước ra. Và có người mở các cửa thoát nước và đóng các cửa dẫn nước vào, và trời không mưa đủ. Người ta sẽ trông đợi hồ chứa nước lớn đó cạn đi chứ không đầy lên. Cũng vậy, có bốn cửa ngõ làm tiêu hao tài sản đã được thu thập theo cách này. Đam mê nữ sắc, nghiện rượu, cờ bạc, và có bạn xấu, người đồng hành xấu, kẻ liên hệ xấu.
Có bốn cửa ngõ làm tăng trưởng tài sản đã được thu thập theo cách này. Không đam mê nữ sắc, nghiện rượu, hay cờ bạc, và có bạn tốt, người đồng hành tốt, kẻ liên hệ tốt. Giả sử có một hồ chứa nước lớn với bốn cửa dẫn nước vào và bốn cửa thoát nước ra. Và có người mở các cửa dẫn nước vào và đóng các cửa thoát nước ra, và trời mưa nhiều. Người ta sẽ trông đợi hồ chứa nước lớn đó đầy lên chứ không cạn đi. Cũng vậy, có bốn cửa ngõ làm tăng trưởng tài sản đã được thu thập theo cách này. Không đam mê nữ sắc, nghiện rượu, hay cờ bạc, và có bạn tốt, người đồng hành tốt, kẻ liên hệ tốt.
Đây là bốn pháp đưa đến an lạc và hạnh phúc cho một người thiện gia nam tử trong đời này.
Bốn pháp này đưa đến an lạc và hạnh phúc cho một người thiện gia nam tử trong các đời sau. Bốn pháp đó là gì? Thành tựu về niềm tin (Accomplishment in faith / sự đạt được niềm tin vững chắc), thành tựu về giới đức (Accomplishment in ethics / sự đạt được hành vi đạo đức vững chắc), thành tựu về lòng rộng rãi (Accomplishment in generosity / sự đạt được tâm bố thí, không keo kiệt), và thành tựu về trí tuệ (Accomplishment in wisdom / sự đạt được sự hiểu biết đúng đắn).
Thế nào là thành tựu về niềm tin? Đó là khi một người thiện gia nam tử có niềm tin (faith / lòng tin vào Tam Bảo) vào sự giác ngộ của Bậc Giác Ngộ: 'Đức Thế Tôn đó là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.' Đây gọi là thành tựu về niềm tin.
Thế nào là thành tựu về giới đức? Đó là khi một người thiện gia nam tử không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không dùng các chất say, rượu men, rượu nấu. Đây gọi là thành tựu về giới đức.
Thế nào là thành tựu về lòng rộng rãi? Đó là khi một người thiện gia nam tử sống tại gia với tâm không còn vết nhơ của sự keo kiệt, rộng rãi, hào phóng, ưa thích từ bỏ, chuyên tâm làm từ thiện, thích cho đi và chia sẻ. Đây gọi là thành tựu về lòng rộng rãi.
Thế nào là thành tựu về trí tuệ? Đó là khi một người thiện gia nam tử có trí tuệ (wisdom / sự hiểu biết đúng đắn). Vị ấy có trí tuệ về sự sinh diệt (wisdom of arising and passing away / sự hiểu biết về bản chất vô thường của các pháp), là trí tuệ thánh thiện, có khả năng thâm nhập, và đưa đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau. Đây gọi là thành tựu về trí tuệ.
Đây là bốn pháp đưa đến an lạc và hạnh phúc cho một người thiện gia nam tử trong các đời sau.
Họ siêng năng nơi làm việc,
Cần mẫn trong quản lý công việc,
Họ cân đối tài chính,
Và bảo tồn tài sản của mình.Có niềm tin, thành tựu giới đức,
Rộng rãi, không còn keo kiệt,
Họ luôn thanh lọc con đường
Đến an lạc trong các đời sau.Và như vậy tám phẩm chất này
Của người gia chủ có niềm tin
Được bậc Chân Nhân tuyên bố
Đưa đến hạnh phúc ở cả hai cõi,An lạc và lợi ích trong đời này,
Và hạnh phúc trong các đời sau.
Đây là cách, đối với người gia chủ,
Phước báu tăng trưởng nhờ lòng rộng rãi."
AN 8.55 Kinh Ujjaya Ujjayasutta
Bấy giờ, bà-la-môn Ujjaya đến gặp Đức Phật và chào hỏi Ngài. Sau khi chào hỏi và nói chuyện xã giao xong, ông ngồi xuống một bên và bạch Đức Phật:
"Thưa Tôn giả Gotama, chúng tôi muốn đi xa. Xin Đức Phật hãy dạy Pháp cho chúng tôi theo cách đưa đến an lạc và hạnh phúc trong đời này và trong các đời sau."
"Này Bà-la-môn, bốn pháp này đưa đến an lạc và hạnh phúc cho một người thiện gia nam tử trong đời này. Bốn pháp đó là gì? Thành tựu về sự khởi xướng, thành tựu về sự bảo vệ, thành tựu về thiện hữu, và thành tựu về đời sống quân bình.
Thế nào là thành tựu về sự khởi xướng? Một người thiện gia nam tử có thể kiếm sống bằng các phương tiện như nông nghiệp, thương mại, chăn nuôi, bắn cung, phục vụ chính quyền, hoặc một trong các nghề nghiệp khác. Vị ấy hiểu biết cách thức tiến hành những việc này để hoàn thành và tổ chức công việc. Đây gọi là thành tựu về sự khởi xướng.
Thế nào là thành tựu về sự bảo vệ? Đó là khi một người thiện gia nam tử sở hữu tài sản hợp pháp mà vị ấy đã kiếm được bằng nỗ lực và sự chủ động của bản thân, gây dựng bằng chính đôi tay mình, thu được bằng mồ hôi công sức. Vị ấy đảm bảo tài sản được canh giữ và bảo vệ, suy nghĩ rằng: 'Làm sao ta có thể ngăn chặn tài sản của mình bị vua quan hay trộm cướp lấy đi, bị lửa thiêu, bị nước cuốn trôi, hoặc bị những người thừa kế không ưa thích chiếm đoạt?' Đây gọi là thành tựu về sự bảo vệ.
Thế nào là thành tựu về thiện hữu? Đó là khi một người thiện gia nam tử cư trú trong một thị trấn hay làng mạc. Và ở nơi đó có những người gia chủ hoặc con cái của họ, có thể trẻ hoặc già, nhưng trưởng thành trong hạnh kiểm, thành tựu về niềm tin, giới đức, lòng rộng rãi, và trí tuệ. Vị ấy kết giao, trò chuyện và tham gia thảo luận với họ. Và vị ấy noi theo những thành tựu tương tự về niềm tin, giới đức, lòng rộng rãi, và trí tuệ. Đây gọi là thành tựu về thiện hữu.
Thế nào là thành tựu về đời sống quân bình? Đó là khi một người thiện gia nam tử, biết rõ thu nhập và chi tiêu của mình, cân đối tài chính, không quá hoang phí cũng không quá keo kiệt. Vị ấy nghĩ: 'Bằng cách này, thu nhập của ta sẽ vượt quá chi tiêu, chứ không ngược lại.' Giống như một người thẩm định giá hoặc người học việc của họ, khi cầm cán cân, biết rằng nó thấp đi bao nhiêu hay cao lên bao nhiêu. Cũng vậy, một người thiện gia nam tử, biết rõ thu nhập và chi tiêu của mình, cân đối tài chính, không quá hoang phí cũng không quá keo kiệt. Vị ấy nghĩ: 'Bằng cách này, thu nhập của ta sẽ vượt quá chi tiêu, chứ không ngược lại.' Nếu một người thiện gia nam tử có ít thu nhập nhưng sống xa hoa, người ta sẽ nói: 'Người thiện gia nam tử này tiêu xài tài sản như người ăn quả sung!' Nếu một người thiện gia nam tử có thu nhập lớn nhưng sống khắc khổ, người ta sẽ nói: 'Người thiện gia nam tử này đang bỏ đói bản thân đến chết!' Nhưng một người thiện gia nam tử, biết rõ thu nhập và chi tiêu của mình, sống một đời sống quân bình, không quá hoang phí cũng không quá keo kiệt, nghĩ rằng: 'Bằng cách này, thu nhập của ta sẽ vượt quá chi tiêu, chứ không ngược lại.' Đây gọi là thành tựu về đời sống quân bình.
Có bốn cửa ngõ làm tiêu hao tài sản đã được thu thập theo cách này. Đam mê nữ sắc, nghiện rượu, cờ bạc, và có bạn xấu, người đồng hành xấu, kẻ liên hệ xấu. Giả sử có một hồ chứa nước lớn với bốn cửa dẫn nước vào và bốn cửa thoát nước ra. Và có người mở các cửa thoát nước và đóng các cửa dẫn nước vào, và trời không mưa đủ. Người ta sẽ trông đợi hồ chứa nước lớn đó cạn đi chứ không đầy lên. Cũng vậy, có bốn cửa ngõ làm tiêu hao tài sản đã được thu thập theo cách này. Đam mê nữ sắc, nghiện rượu, cờ bạc, và có bạn xấu, người đồng hành xấu, kẻ liên hệ xấu.
Có bốn cửa ngõ làm tăng trưởng tài sản đã được thu thập theo cách này. Không đam mê nữ sắc, nghiện rượu, hay cờ bạc, và có bạn tốt, người đồng hành tốt, kẻ liên hệ tốt. Giả sử có một hồ chứa nước lớn với bốn cửa dẫn nước vào và bốn cửa thoát nước ra. Và có người mở các cửa dẫn nước vào và đóng các cửa thoát nước ra, và trời mưa nhiều. Người ta sẽ trông đợi hồ chứa nước lớn đó đầy lên chứ không cạn đi. Cũng vậy, có bốn cửa ngõ làm tăng trưởng tài sản đã được thu thập theo cách này. Không đam mê nữ sắc, nghiện rượu, hay cờ bạc, và có bạn tốt, người đồng hành tốt, kẻ liên hệ tốt.
Đây là bốn pháp đưa đến an lạc và hạnh phúc cho một người thiện gia nam tử trong đời này.
Bốn pháp này đưa đến an lạc và hạnh phúc cho một người thiện gia nam tử trong các đời sau. Bốn pháp đó là gì? Thành tựu về niềm tin, thành tựu về giới đức, thành tựu về lòng rộng rãi, và thành tựu về trí tuệ.
Thế nào là thành tựu về niềm tin? Đó là khi một người thiện gia nam tử có niềm tin vào sự giác ngộ của Bậc Giác Ngộ: 'Đức Thế Tôn đó là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác, Minh Hạnh Túc, Thiện Thệ, Thế Gian Giải, Vô Thượng Sĩ Điều Ngự Trượng Phu, Thiên Nhân Sư, Phật, Thế Tôn.' Đây gọi là thành tựu về niềm tin.
Thế nào là thành tựu về giới đức? Đó là khi một người thiện gia nam tử không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không dùng các chất say, rượu men, rượu nấu. Đây gọi là thành tựu về giới đức.
Thế nào là thành tựu về lòng rộng rãi? Đó là khi một người thiện gia nam tử sống tại gia với tâm không còn vết nhơ của sự keo kiệt, rộng rãi, hào phóng, ưa thích từ bỏ, chuyên tâm làm từ thiện, thích cho đi và chia sẻ. Đây gọi là thành tựu về lòng rộng rãi.
Thế nào là thành tựu về trí tuệ? Đó là khi một người thiện gia nam tử có trí tuệ. Vị ấy có trí tuệ về sự sinh diệt, là trí tuệ thánh thiện, có khả năng thâm nhập, và đưa đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau. Đây gọi là thành tựu về trí tuệ.
Đây là bốn pháp đưa đến an lạc và hạnh phúc cho một người thiện gia nam tử trong các đời sau.
Họ siêng năng nơi làm việc,
Cần mẫn trong quản lý công việc,
Họ cân đối tài chính,
Và bảo tồn tài sản của mình.Có niềm tin, thành tựu giới đức,
Rộng rãi, không còn keo kiệt,
Họ luôn thanh lọc con đường
Đến an lạc trong các đời sau.Và như vậy tám phẩm chất này
Của người gia chủ có niềm tin
Được bậc Chân Nhân tuyên bố
Đưa đến hạnh phúc ở cả hai cõi,An lạc và lợi ích trong đời này,
Và hạnh phúc trong đời sau.
Đây là cách, đối với người gia chủ,
Phước báu tăng trưởng nhờ lòng rộng rãi."
AN 8.56 Nguy Hiểm Bhayasutta
"Này các tỳ-khưu, 'nguy hiểm' (danger / mối đe dọa, sự không an toàn) là một thuật ngữ chỉ các dục lạc. 'Khổ đau' (suffering / sự bất toại nguyện, đau đớn về thể chất và tinh thần), 'bệnh tật' (disease / sự ốm đau), 'ung nhọt' (boil / khối mủ sưng đau), 'mũi tên' (dart / vật nhọn gây đau đớn), 'cạm bẫy' (snare / cái bẫy để bắt giữ), 'đầm lầy' (bog / vùng đất lầy lội khó thoát ra), và 'thai tạng' (womb / nơi chứa đựng bào thai, ẩn dụ cho sự tái sinh) là những thuật ngữ chỉ các dục lạc. Và tại sao 'nguy hiểm' là một thuật ngữ chỉ các dục lạc? Người nào bị mê đắm bởi tham dục (sensual greed / lòng tham muốn các dục lạc) và bị trói buộc bởi dục vọng (lustful desire / sự ham muốn mãnh liệt về tình dục và các thú vui giác quan) thì không được giải thoát khỏi những nguy hiểm trong đời này hay trong các đời sau. Đó là lý do tại sao 'nguy hiểm' là một thuật ngữ chỉ các dục lạc. Và tại sao 'khổ đau', 'bệnh tật', 'ung nhọt', 'mũi tên', 'cạm bẫy', 'đầm lầy', và 'thai tạng' là những thuật ngữ chỉ các dục lạc? Người nào bị mê đắm bởi tham dục và bị trói buộc bởi dục vọng thì không được giải thoát khỏi các thai tạng (sự tái sinh) trong đời này hay trong các đời sau. Đó là lý do tại sao 'thai tạng' là một thuật ngữ chỉ các dục lạc.
Nguy hiểm, khổ đau, và bệnh tật,
Ung nhọt, mũi tên, và cạm bẫy,
Cả đầm lầy và thai tạng nữa.
Những điều này mô tả các dục lạc
Mà phàm phu (ordinary people / người chưa giác ngộ, còn bị phiền não chi phối) còn dính mắc.Bị nhấn chìm bởi những thứ có vẻ dễ chịu,
Ngươi đi vào một thai tạng khác.
Nhưng khi một tỳ-khưu nhiệt tâm,
Và không quên sự tỉnh thức (awareness / sự nhận biết rõ ràng những gì đang xảy ra trong hiện tại),Bằng cách này họ vượt qua
Đầm lầy khổ ải này.
Họ nhìn thấy chúng sinh này đang vùng vẫy,
Rơi vào vòng sinh và già."
AN 8.57 Xứng Đáng Nhận Cúng Dường (1) Paṭhamaāhuneyyasutta
"Này các tỳ-khưu, một vị tỳ-khưu có tám phẩm chất thì xứng đáng nhận vật cúng dường của chư thiên (Worthy of Offerings Dedicated to the Gods / bậc xứng đáng được tôn kính và cúng dường cao nhất), xứng đáng được tiếp đón, xứng đáng nhận vật tặng phẩm, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng cho đời (supreme field of merit for the world / nơi gieo trồng công đức mang lại kết quả tốt đẹp nhất). Tám phẩm chất đó là gì?
Đó là khi một vị tỳ-khưu có giới đức, thu thúc trong giới bổn, có hạnh kiểm tốt và đi khất thực ở những nơi thích hợp. Thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt nhất, vị ấy giữ gìn các học giới đã thọ nhận.
Vị ấy là người đa văn, ghi nhớ và nắm giữ những gì đã học. Những lời dạy này tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, và tốt đẹp ở đoạn cuối, có ý nghĩa và văn cú hoàn hảo, mô tả một đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh. Vị ấy rất thông thạo những lời dạy như vậy, ghi nhớ chúng, tụng đọc chúng, thẩm sát bằng tâm ý, và thông hiểu bằng trí tuệ.
Vị ấy có bạn tốt, người đồng hành tốt, kẻ liên hệ tốt.
Vị ấy có chánh kiến (right view / sự hiểu biết đúng đắn về Tứ Diệu Đế và bản chất của thực tại), sở hữu cái nhìn đúng đắn.
Vị ấy chứng đắc tứ thiền (four absorptions / bốn trạng thái nhập định sâu sắc trong thiền định)---những trạng thái thiền định an lạc trong đời này thuộc về tâm cao thượng---bất cứ khi nào muốn, không khó khăn, không mệt nhọc.
Vị ấy nhớ lại nhiều đời quá khứ, với các đặc điểm và chi tiết.
Với thiên nhãn thanh tịnh, siêu nhân (clairvoyance that is purified and surpasses the human / khả năng nhìn thấy các cảnh giới khác và sự tái sinh của chúng sinh, vượt xa mắt thường), vị ấy thấy chúng sinh tái sinh như thế nào tùy theo nghiệp của họ.
Vị ấy chứng ngộ tâm giải thoát, tuệ giải thoát không còn ô nhiễm (undefiled freedom of heart and freedom by wisdom / sự giải thoát hoàn toàn khỏi phiền não nhờ định và tuệ) ngay trong đời này. Và vị ấy sống sau khi đã tự mình chứng ngộ bằng trí tuệ thấu suốt nhờ sự đoạn trừ các lậu hoặc (defilements / những ô nhiễm tinh thần làm chúng sinh trôi lăn trong luân hồi).
Một vị tỳ-khưu có tám phẩm chất này thì xứng đáng nhận vật cúng dường của chư thiên, xứng đáng được tiếp đón, xứng đáng nhận vật tặng phẩm, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng cho đời."
AN 8.58 Xứng Đáng Nhận Cúng Dường (2) Dutiyaāhuneyyasutta
"Một vị tỳ-khưu có tám phẩm chất thì xứng đáng nhận vật cúng dường của chư thiên, xứng đáng được tiếp đón, xứng đáng nhận vật tặng phẩm, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng cho đời. Tám phẩm chất đó là gì?
Đó là khi một vị tỳ-khưu có giới đức, thu thúc trong giới bổn, có hạnh kiểm tốt và đi khất thực ở những nơi thích hợp. Thấy sự nguy hiểm trong những lỗi nhỏ nhặt nhất, vị ấy giữ gìn các học giới đã thọ nhận.
Vị ấy là người đa văn, ghi nhớ và nắm giữ những gì đã học. Những lời dạy này tốt đẹp ở đoạn đầu, tốt đẹp ở đoạn giữa, và tốt đẹp ở đoạn cuối, có ý nghĩa và văn cú hoàn hảo, mô tả một đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh. Vị ấy rất thông thạo những lời dạy như vậy, ghi nhớ chúng, tụng đọc chúng, thẩm sát bằng tâm ý, và thông hiểu bằng trí tuệ.
Vị ấy sống với nghị lực được khơi dậy. Vị ấy mạnh mẽ, kiên cường, không lười nhác khi phát triển các phẩm chất thiện lành.
Vị ấy sống ở nơi hoang dã, trong các trú xứ xa xôi hẻo lánh.
Vị ấy chế ngự được tham ái và bất mãn (discontent / sự không hài lòng, khó chịu), và sống làm chủ được tham ái và bất mãn mỗi khi chúng khởi lên.
Vị ấy chế ngự được sợ hãi và kinh hoàng, và sống làm chủ được sợ hãi và kinh hoàng mỗi khi chúng khởi lên.
Vị ấy chứng đắc tứ thiền---những trạng thái thiền định an lạc trong đời này thuộc về tâm cao thượng---bất cứ khi nào muốn, không khó khăn, không mệt nhọc.
Vị ấy chứng ngộ tâm giải thoát, tuệ giải thoát không còn ô nhiễm ngay trong đời này. Và vị ấy sống sau khi đã tự mình chứng ngộ bằng trí tuệ thấu suốt nhờ sự đoạn trừ các lậu hoặc.
Một vị tỳ-khưu có tám phẩm chất này thì xứng đáng nhận vật cúng dường của chư thiên, xứng đáng được tiếp đón, xứng đáng nhận vật tặng phẩm, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng cho đời."
AN 8.59 Tám Hạng Người (1) Paṭhamapuggalasutta
"Này các tỳ-khưu, tám hạng người này xứng đáng nhận vật cúng dường của chư thiên, xứng đáng được tiếp đón, xứng đáng nhận vật tặng phẩm, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng cho đời. Tám hạng người đó là gì? Bậc Dự lưu (stream-enterer / người đã nhập vào dòng thánh, chắc chắn đạt Niết-bàn) và người đang thực hành để chứng quả Dự lưu (fruit of stream-entry / thành quả của bậc Dự lưu). Bậc Nhất lai (once-returner / người chỉ còn tái sinh một lần nữa ở cõi dục) và người đang thực hành để chứng quả Nhất lai (fruit of once-return / thành quả của bậc Nhất lai). Bậc Bất lai (non-returner / người không còn tái sinh trở lại cõi dục) và người đang thực hành để chứng quả Bất lai (fruit of non-return / thành quả của bậc Bất lai). Bậc A-la-hán (perfected one / người đã hoàn toàn giác ngộ, chấm dứt khổ đau và tái sinh), và người đang thực hành để chứng quả A-la-hán (fruit of perfection / thành quả của bậc A-la-hán). Đây là tám hạng người xứng đáng nhận vật cúng dường của chư thiên, xứng đáng được tiếp đón, xứng đáng nhận vật tặng phẩm, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng cho đời.
Bốn vị đang hành đạo,
Và bốn vị đã chứng quả.
Đây là Tăng đoàn chân chính,
Với trí tuệ, giới đức, và định (immersion / sự tập trung tâm ý, thiền định).Đối với loài người, những chúng sinh tìm cầu phước báu,
Những người cúng dường tế lễ,
Tạo phước báu thế gian,
Những gì cúng dường cho Tăng đoàn thì có quả lớn."
AN 8.60 Tám Hạng Người (2) Dutiyapuggalasutta
"Này các tỳ-khưu, tám hạng người này xứng đáng nhận vật cúng dường của chư thiên, xứng đáng được tiếp đón, xứng đáng nhận vật tặng phẩm, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng cho đời. Tám hạng người đó là gì? Bậc Dự lưu và người đang thực hành để chứng quả Dự lưu. Bậc Nhất lai và người đang thực hành để chứng quả Nhất lai. Bậc Bất lai và người đang thực hành để chứng quả Bất lai. Bậc A-la-hán, và người đang thực hành để chứng quả A-la-hán. Đây là tám hạng người xứng đáng nhận vật cúng dường của chư thiên, xứng đáng được tiếp đón, xứng đáng nhận vật tặng phẩm, xứng đáng được chắp tay kính lễ, và là ruộng phước vô thượng cho đời.
Bốn vị đang hành đạo,
Và bốn vị đã chứng quả.
Đây là Tăng đoàn cao thượng,
Tám hạng người giữa chúng sinh.Đối với loài người, những chúng sinh tìm cầu phước báu,
Những người cúng dường tế lễ,
Tạo phước báu thế gian,
Những gì cúng dường ở đây thì có quả lớn."