Skip to content

Phẩm về Động Đất

AN 8.61 Kinh Ước Muốn (Icchāsutta)

"Này các Tỷ kheo, có tám hạng người này được tìm thấy ở đời. Tám hạng người nào?

Thứ nhất, khi một vị Tỷ kheo sống độc cư, biệt lập, một ước muốn khởi lên đối với lợi dưỡng (material things / của cải vật chất, sự cúng dường). Vị ấy cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Nhưng lợi dưỡng không đến với vị ấy. Và do đó vị ấy sầu muộn, than khóc, đấm ngực và rơi vào hoang mang vì không có được những lợi dưỡng ấy. Đây gọi là một vị Tỷ kheo sống ước muốn lợi dưỡng. Vị ấy cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Nhưng khi không đạt được lợi dưỡng, vị ấy sầu muộn và than khóc. Vị ấy đã rời xa Chánh pháp (true teaching / giáo pháp chân chính).

Tiếp theo, khi một vị Tỷ kheo sống độc cư, biệt lập, một ước muốn khởi lên đối với lợi dưỡng. Vị ấy cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Và lợi dưỡng đến với vị ấy. Và do đó vị ấy trở nên say đắm và rơi vào sao nhãng (negligence / sự lơ là, không chú tâm) đối với những lợi dưỡng ấy. Đây gọi là một vị Tỷ kheo sống ước muốn lợi dưỡng. Vị ấy cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Và khi đạt được lợi dưỡng, vị ấy trở nên say đắm và sao nhãng. Vị ấy đã rời xa Chánh pháp.

Tiếp theo, khi một vị Tỷ kheo sống độc cư, biệt lập, một ước muốn khởi lên đối với lợi dưỡng. Vị ấy không cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Và lợi dưỡng không đến với vị ấy. Và do đó vị ấy sầu muộn, than khóc, đấm ngực và rơi vào hoang mang vì không có được những lợi dưỡng ấy. Đây gọi là một vị Tỷ kheo sống ước muốn lợi dưỡng. Vị ấy không cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Và khi không đạt được lợi dưỡng, vị ấy sầu muộn và than khóc. Vị ấy đã rời xa Chánh pháp.

Tiếp theo, khi một vị Tỷ kheo sống độc cư, biệt lập, một ước muốn khởi lên đối với lợi dưỡng. Vị ấy không cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Nhưng lợi dưỡng đến với vị ấy. Và do đó vị ấy trở nên say đắm và rơi vào sao nhãng đối với những lợi dưỡng ấy. Đây gọi là một vị Tỷ kheo sống ước muốn lợi dưỡng. Vị ấy không cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Nhưng khi đạt được lợi dưỡng, vị ấy trở nên say đắm và sao nhãng. Vị ấy đã rời xa Chánh pháp.

Tiếp theo, khi một vị Tỷ kheo sống độc cư, biệt lập, một ước muốn khởi lên đối với lợi dưỡng. Vị ấy cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Nhưng lợi dưỡng không đến với vị ấy. Nhưng vị ấy không sầu muộn, than khóc, đấm ngực và rơi vào hoang mang vì không có được những lợi dưỡng ấy. Đây gọi là một vị Tỷ kheo sống ước muốn lợi dưỡng. Vị ấy cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Nhưng khi không đạt được lợi dưỡng, vị ấy không sầu muộn và than khóc. Vị ấy không rời xa Chánh pháp.

Tiếp theo, khi một vị Tỷ kheo sống độc cư, biệt lập, một ước muốn khởi lên đối với lợi dưỡng. Vị ấy cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Và lợi dưỡng đến với vị ấy. Nhưng vị ấy không trở nên say đắm và rơi vào sao nhãng đối với những lợi dưỡng ấy. Đây gọi là một vị Tỷ kheo sống ước muốn lợi dưỡng. Vị ấy cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Nhưng khi đạt được lợi dưỡng, vị ấy không trở nên say đắm và sao nhãng. Vị ấy không rời xa Chánh pháp.

Tiếp theo, khi một vị Tỷ kheo sống độc cư, biệt lập, một ước muốn khởi lên đối với lợi dưỡng. Vị ấy không cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Và lợi dưỡng không đến với vị ấy. Nhưng vị ấy không sầu muộn, than khóc, đấm ngực và rơi vào hoang mang vì không có được những lợi dưỡng ấy. Đây gọi là một vị Tỷ kheo sống ước muốn lợi dưỡng. Vị ấy không cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Và khi không đạt được lợi dưỡng, vị ấy không sầu muộn và than khóc. Vị ấy không rời xa Chánh pháp.

Tiếp theo, khi một vị Tỷ kheo sống độc cư, biệt lập, một ước muốn khởi lên đối với lợi dưỡng. Vị ấy không cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Nhưng lợi dưỡng đến với vị ấy. Nhưng vị ấy không trở nên say đắm và rơi vào sao nhãng đối với những lợi dưỡng ấy. Đây gọi là một vị Tỷ kheo sống ước muốn lợi dưỡng. Vị ấy không cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Và khi đạt được lợi dưỡng, vị ấy không trở nên say đắm và sao nhãng. Vị ấy không rời xa Chánh pháp.

Đó là tám hạng người được tìm thấy ở đời."

AN 8.62 Kinh Vừa Đủ (Alaṁsutta)

"Này các Tỷ kheo, một vị Tỷ kheo với sáu phẩm chất là đủ cho chính mình và cho người khác. Sáu phẩm chất nào? Một vị Tỷ kheo nhanh trí đối với các thiện pháp (skillful teachings / các pháp lành, các lời dạy thiện xảo). Vị ấy dễ dàng ghi nhớ những lời dạy đã nghe. Vị ấy quán xét ý nghĩa của những lời dạy đã ghi nhớ. Hiểu rõ ý nghĩa và giáo pháp, vị ấy thực hành theo đúng như vậy. Vị ấy là người nói giỏi, phát âm rõ ràng. Giọng nói của vị ấy trau chuốt, trong sáng, mạch lạc và diễn đạt được ý nghĩa. Vị ấy giáo huấn, khích lệ, làm phấn chấn và truyền cảm hứng cho các bạn đồng tu (spiritual companions / những người bạn cùng thực hành tâm linh). Một vị Tỷ kheo với sáu phẩm chất này là đủ cho chính mình và cho người khác.

Một vị Tỷ kheo với năm phẩm chất là đủ cho chính mình và cho người khác. Năm phẩm chất nào? Một vị Tỷ kheo không nhanh trí đối với các thiện pháp. Vị ấy dễ dàng ghi nhớ những lời dạy đã nghe. Vị ấy quán xét ý nghĩa của những lời dạy đã ghi nhớ. Hiểu rõ ý nghĩa và giáo pháp, vị ấy thực hành theo đúng như vậy. Vị ấy là người nói giỏi. Giọng nói của vị ấy trau chuốt, trong sáng, mạch lạc và diễn đạt được ý nghĩa. Vị ấy giáo huấn, khích lệ, làm phấn chấn và truyền cảm hứng cho các bạn đồng tu. Một vị Tỷ kheo với năm phẩm chất này là đủ cho chính mình và cho người khác.

Một vị Tỷ kheo với bốn phẩm chất là đủ cho chính mình nhưng không đủ cho người khác. Bốn phẩm chất nào? Một vị Tỷ kheo nhanh trí đối với các thiện pháp. Vị ấy dễ dàng ghi nhớ những lời dạy đã nghe. Vị ấy quán xét ý nghĩa của những lời dạy đã ghi nhớ. Hiểu rõ ý nghĩa và giáo pháp, vị ấy thực hành theo đúng như vậy. Nhưng vị ấy không phải là người nói giỏi và không phát âm rõ ràng. Giọng nói của vị ấy không trau chuốt, trong sáng, mạch lạc và không diễn đạt được ý nghĩa. Vị ấy không giáo huấn, khích lệ, làm phấn chấn và truyền cảm hứng cho các bạn đồng tu. Một vị Tỷ kheo với bốn phẩm chất này là đủ cho chính mình nhưng không đủ cho người khác.

Một vị Tỷ kheo với bốn phẩm chất là đủ cho người khác nhưng không đủ cho chính mình. Bốn phẩm chất nào? Một vị Tỷ kheo nhanh trí đối với các thiện pháp. Vị ấy dễ dàng ghi nhớ những lời dạy đã nghe. Nhưng vị ấy không quán xét ý nghĩa của những lời dạy đã ghi nhớ. Không hiểu rõ ý nghĩa và giáo pháp, vị ấy không thực hành theo đúng như vậy. Vị ấy là người nói giỏi, phát âm rõ ràng. Giọng nói của vị ấy trau chuốt, trong sáng, mạch lạc và diễn đạt được ý nghĩa. Vị ấy giáo huấn, khích lệ, làm phấn chấn và truyền cảm hứng cho các bạn đồng tu. Một vị Tỷ kheo với bốn phẩm chất này là đủ cho người khác nhưng không đủ cho chính mình.

Một vị Tỷ kheo với ba phẩm chất là đủ cho chính mình nhưng không đủ cho người khác. Ba phẩm chất nào? Một vị Tỷ kheo không nhanh trí đối với các thiện pháp. Vị ấy dễ dàng ghi nhớ những lời dạy đã nghe. Vị ấy quán xét ý nghĩa của những lời dạy đã ghi nhớ. Hiểu rõ ý nghĩa và giáo pháp, vị ấy thực hành theo đúng như vậy. Nhưng vị ấy không phải là người nói giỏi và không phát âm rõ ràng. Giọng nói của vị ấy không trau chuốt, trong sáng, mạch lạc và không diễn đạt được ý nghĩa. Vị ấy không giáo huấn, khích lệ, làm phấn chấn và truyền cảm hứng cho các bạn đồng tu. Một vị Tỷ kheo với ba phẩm chất này là đủ cho chính mình nhưng không đủ cho người khác.

Một vị Tỷ kheo với ba phẩm chất là đủ cho người khác nhưng không đủ cho chính mình. Ba phẩm chất nào? Một vị Tỷ kheo không nhanh trí đối với các thiện pháp. Vị ấy dễ dàng ghi nhớ những lời dạy đã nghe. Nhưng vị ấy không quán xét ý nghĩa của những lời dạy đã ghi nhớ. Không hiểu rõ ý nghĩa và giáo pháp, vị ấy không thực hành theo đúng như vậy. Vị ấy là người nói giỏi. Giọng nói của vị ấy trau chuốt, trong sáng, mạch lạc và diễn đạt được ý nghĩa. Vị ấy giáo huấn, khích lệ, làm phấn chấn và truyền cảm hứng cho các bạn đồng tu. Một vị Tỷ kheo với ba phẩm chất này là đủ cho người khác nhưng không đủ cho chính mình.

Một vị Tỷ kheo với hai phẩm chất là đủ cho chính mình nhưng không đủ cho người khác. Hai phẩm chất nào? Một vị Tỷ kheo không nhanh trí đối với các thiện pháp. Và vị ấy không dễ dàng ghi nhớ những lời dạy đã nghe. Nhưng vị ấy quán xét ý nghĩa của những lời dạy đã ghi nhớ. Hiểu rõ ý nghĩa và giáo pháp, vị ấy thực hành theo đúng như vậy. Vị ấy không phải là người nói giỏi. Giọng nói của vị ấy không trau chuốt, trong sáng, mạch lạc và không diễn đạt được ý nghĩa. Vị ấy không giáo huấn, khích lệ, làm phấn chấn và truyền cảm hứng cho các bạn đồng tu. Một vị Tỷ kheo với hai phẩm chất này là đủ cho chính mình nhưng không đủ cho người khác.

Một vị Tỷ kheo với hai phẩm chất là đủ cho người khác nhưng không đủ cho chính mình. Hai phẩm chất nào? Một vị Tỷ kheo không nhanh trí đối với các thiện pháp. Và vị ấy không dễ dàng ghi nhớ những lời dạy đã nghe. Vị ấy cũng không quán xét ý nghĩa của những lời dạy đã ghi nhớ. Không hiểu rõ ý nghĩa và giáo pháp, vị ấy không thực hành theo đúng như vậy. Nhưng vị ấy là người nói giỏi, phát âm rõ ràng. Giọng nói của vị ấy trau chuốt, trong sáng, mạch lạc và diễn đạt được ý nghĩa. Vị ấy giáo huấn, khích lệ, làm phấn chấn và truyền cảm hứng cho các bạn đồng tu. Một vị Tỷ kheo với hai phẩm chất này là đủ cho người khác nhưng không đủ cho chính mình."

AN 8.63 Kinh Giảng Vắn Tắt (Saṁkhittasutta)

Khi ấy, một vị Tỷ kheo đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, rồi ngồi xuống một bên và thưa rằng: "Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn giảng Pháp (Dhamma / Giáo pháp, sự thật) cho con một cách vắn tắt. Sau khi nghe xong, con sẽ sống một mình, ẩn dật, siêng năng (diligent / cần mẫn, chuyên cần), nhiệt tâm và quyết chí."

"Này Tỷ kheo, đây chính là cách một số kẻ ngốc yêu cầu Ta điều gì đó. Nhưng khi giáo pháp đã được giải thích, họ chỉ nghĩ đến việc đi theo Ta mà thôi."

"Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn giảng Pháp cho con một cách vắn tắt! Mong Bậc Thánh (Holy One / người đã đạt được sự giác ngộ) giảng Pháp cho con một cách vắn tắt! Mong rằng con có thể hiểu được ý nghĩa những gì Thế Tôn nói! Mong rằng con có thể là người thừa tự giáo pháp của Đức Phật!"

"Vậy thì, này Tỷ kheo, con nên tu tập như sau: 'Tâm của ta sẽ vững vàng và an trú tốt đẹp bên trong. Và các pháp bất thiện đã sinh khởi sẽ không chiếm ngự tâm ta.' Đó là cách con nên tu tập.

Khi tâm con vững vàng và an trú tốt đẹp bên trong, và các pháp bất thiện đã sinh khởi không chiếm ngự tâm con, thì con nên tu tập như sau: 'Ta sẽ phát triển tâm giải thoát bằng từ ái (heart's release by love / sự giải thoát của tâm nhờ lòng từ. Lòng từ là lòng yêu thương chân thành, mong muốn người khác được hạnh phúc, an vu). Ta sẽ tu tập nó, biến nó thành cỗ xe và nền tảng của ta, duy trì nó, củng cố nó và thực hành nó một cách đúng đắn.' Đó là cách con nên tu tập.

Khi sự định tâm (immersion / trạng thái tập trung sâu sắc của tâm, thiền định) này được phát triển và tu tập theo cách này, con nên phát triển nó trong khi có tầm có tứ (placing the mind and keeping it connected /nỗ lực hướng ý thức đến đối tượng và nỗ lực giữ ý thức vào đối tượng). Con nên phát triển nó với không tầm, chỉ có tứ (without placing the mind, merely keeping it connected / dễ dàng hướng ý thức đến đối tượng và nỗ lực giữ ý thức trên đối tượng). Con nên phát triển nó với không tầm không tứ (without placing the mind or keeping it connected / ý thức và đối tượng là một, không cần nỗ lực). Con nên phát triển nó với hỷ (rapture / niềm vui thích mãnh liệt). Con nên phát triển nó không có hỷ. Con nên phát triển nó với an vui (pleasure / lạc, niềm vui thích êm dịu và kéo dài, sự dễ chịu, hạnh phúc). Con nên phát triển nó với xả (equanimity / sự bình thản, tâm quân bình).

Khi sự định tâm này được phát triển tốt đẹp theo cách này, con nên tu tập như sau: 'Ta sẽ phát triển tâm giải thoát bằng từ bi (heart's release by compassion / sự giải thoát của tâm nhờ lòng bi, từ bi là Là lòng trắc ẩn, thương xót chân thành, mong muốn giúp người khác thoát khỏi khổ đau.)...' ... 'Ta sẽ phát triển tâm giải thoát bằng tùy hỷ (heart's release by rejoicing / sự giải thoát của tâm nhờ niềm vui với hạnh phúc của người khác)...' ... 'Ta sẽ phát triển tâm giải thoát bằng xả (heart's release by equanimity / sự giải thoát của tâm nhờ sự bình thản). Ta sẽ tu tập nó, biến nó thành cỗ xe và nền tảng của ta, duy trì nó, củng cố nó và thực hành nó một cách đúng đắn.' Đó là cách con nên tu tập.

Khi sự định tâm này được phát triển tốt đẹp theo cách này, con nên phát triển nó trong khi có tầm có tứ. Con nên phát triển nó không tầm, chỉ có tứ. Con nên phát triển nó không tầm không tứ. Con nên phát triển nó với hỷ. Con nên phát triển nó không có hỷ. Con nên phát triển nó với an vui. Con nên phát triển nó với xả.

Khi sự định tâm này được phát triển tốt đẹp theo cách này, con nên tu tập như sau: 'Ta sẽ quán thân trên thân (meditate observing an aspect of the body / thiền quán về các khía cạnh của thân thể) —nhiệt tâm, tỉnh giác và tỉnh thức (mindful / giữ tâm không quên đối tượng), gạt bỏ tham ái và ưu phiền (covetousness and displeasure / lòng tham muốn và sự buồn khổ) đối với thế gian.' Đó là cách con nên tu tập.

Khi sự định tâm này được phát triển và tu tập theo cách này, con nên phát triển nó trong khi có tầm có tứ. Con nên phát triển nó không tầm, chỉ có tứ. Con nên phát triển nó không tầm không tứ. Con nên phát triển nó với hỷ. Con nên phát triển nó không có hỷ. Con nên phát triển nó với an vui. Con nên phát triển nó với xả.

Khi sự định tâm này được phát triển tốt đẹp theo cách này, con nên tu tập như sau: 'Ta sẽ quán thọ (feelings / các cảm giác dễ chịu, khó chịu hoặc trung tính) trên các thọ...' ... 'Ta sẽ quán tâm (mind / ý thức, dòng chảy của các trạng thái tâm lý) trên tâm...' ... 'Ta sẽ quán pháp (principles / các đối tượng của tâm, các hiện tượng) trên các pháp—nhiệt tâm, tỉnh giác và tỉnh thức, gạt bỏ tham ái và ưu phiền đối với thế gian.' Đó là cách con nên tu tập.

Khi sự định tâm này được phát triển và tu tập theo cách này, con nên phát triển nó trong khi có tầm có tứ. Con nên phát triển nó không tầm, chỉ có tứ. Con nên phát triển nó không tầm không tứ. Con nên phát triển nó với hỷ. Con nên phát triển nó không có hỷ. Con nên phát triển nó với an vui. Con nên phát triển nó với xả.

Khi sự định tâm này được phát triển tốt đẹp theo cách này, dù con đi đâu, con cũng sẽ đi một cách thoải mái. Dù con đứng đâu, con cũng sẽ đứng một cách thoải mái. Dù con ngồi đâu, con cũng sẽ ngồi một cách thoải mái. Dù con nằm đâu, con cũng sẽ nằm một cách thoải mái."

Khi vị Tỷ kheo ấy được Đức Phật khuyên dạy như vậy, vị ấy từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ và kính cẩn đi quanh Đức Phật, giữ Ngài ở bên phải, rồi ra đi.

Rồi vị Tỷ kheo ấy, sống một mình, ẩn dật, siêng năng, nhiệt tâm và quyết chí, không bao lâu đã chứng ngộ sự viên mãn tối thượng của đời sống phạm hạnh ngay trong đời này. Vị ấy sống, đã thành tựu bằng chính tuệ giác của mình mục tiêu mà những người thiện gia nam tử chân chính xuất gia từ bỏ đời sống thế tục để hướng đến.

Vị ấy hiểu rõ: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa." Và vị Tỷ kheo ấy trở thành một trong những bậc A-la-hán (perfected / người đã đạt được giải thoát hoàn toàn, bậc xứng đáng).

AN 8.64 Tại Đỉnh Gayā (Gayāsīsasutta)

Một thời Đức Phật trú gần Gayā, trên đỉnh Gayā. Tại đó, Đức Phật nói với các Tỷ kheo:

"Này các Tỷ kheo, trước khi Ta giác ngộ (awakening / sự tỉnh thức hoàn toàn) —khi Ta vẫn chưa giác ngộ nhưng đang là Bồ-tát (intent on awakening / người đang trên con đường giác ngộ, vị Phật tương lai)—Ta cảm nhận các ánh sáng nhưng không thấy các hình dạng.

Rồi Ta nghĩ rằng, 'Nếu Ta vừa cảm nhận được ánh sáng vừa thấy các hình dạng thì sao? Khi đó tri kiến (knowledge and vision / sự hiểu biết và thấy biết) của Ta sẽ càng thanh tịnh hơn nữa.'

Vì vậy, sau một thời gian, sống siêng năng, nhiệt tâm và quyết chí, Ta cảm nhận ánh sáng và thấy các hình dạng. Nhưng Ta không giao tiếp với các chư thiên (deities / các vị trời, chúng sanh ở cõi trời) ấy, không trò chuyện, hay tham gia thảo luận.

Rồi Ta nghĩ rằng, 'Nếu Ta cảm nhận ánh sáng và thấy được các hình dạng; và giao tiếp với các chư thiên ấy, trò chuyện, và tham gia thảo luận thì sao? Khi đó tri kiến của Ta sẽ càng thanh tịnh hơn nữa.'

Vì vậy, sau một thời gian... Ta cảm nhận ánh sáng và thấy được các hình dạng. Và Ta giao tiếp với các chư thiên ấy, trò chuyện, và tham gia thảo luận. Nhưng Ta không biết các chư thiên ấy thuộc cấp bậc chư thiên (orders of gods / các tầng lớp, loại chư thiên) nào.

Rồi Ta nghĩ rằng, 'Nếu Ta cảm nhận ánh sáng và thấy được các hình dạng; và giao tiếp với các chư thiên ấy, trò chuyện, và tham gia thảo luận; và tìm hiểu xem các chư thiên ấy thuộc cấp bậc chư thiên nào thì sao? Khi đó tri kiến của Ta sẽ càng thanh tịnh hơn nữa.'

Vì vậy, sau một thời gian... Ta cảm nhận ánh sáng và thấy được các hình dạng. Và Ta giao tiếp với các chư thiên ấy... Và Ta tìm hiểu xem các chư thiên ấy thuộc cấp bậc chư thiên nào. Nhưng Ta không biết nghiệp (deeds / hành động có chủ ý tạo ra kết quả) nào đã khiến các chư thiên ấy tái sanh (reborn / sinh lại trong một đời sống mới) ở đó sau khi mệnh chung từ đây.

Vì vậy, sau một thời gian... Ta tìm hiểu xem nghiệp nào đã khiến các chư thiên ấy tái sanh ở đó sau khi mệnh chung từ đây. Nhưng Ta không biết nghiệp nào đã khiến các chư thiên ấy có thức ăn như vậy và trải nghiệm vui khổ như vậy.

Vì vậy, sau một thời gian... Ta tìm hiểu xem nghiệp nào đã khiến các chư thiên ấy có thức ăn như vậy và trải nghiệm vui khổ như vậy. Nhưng Ta không biết rằng các chư thiên này có tuổi thọ (lifespan / thời gian sống) dài bao lâu.

Vì vậy, sau một thời gian... Ta tìm hiểu rằng các chư thiên này có tuổi thọ dài bao lâu. Nhưng Ta không biết liệu Ta có từng chung sống với các chư thiên ấy trước đây hay không.

Rồi Ta nghĩ rằng, 'Nếu Ta cảm nhận ánh sáng và thấy được các hình dạng; và giao tiếp với các chư thiên ấy, trò chuyện, và tham gia thảo luận; và tìm hiểu xem các chư thiên ấy thuộc cấp bậc chư thiên nào; và nghiệp nào đã khiến các chư thiên ấy tái sanh ở đó sau khi mệnh chung từ đây; và nghiệp nào đã khiến các chư thiên ấy có thức ăn như vậy và trải nghiệm vui khổ như vậy; và rằng các chư thiên này có tuổi thọ dài bao lâu; và liệu Ta có từng chung sống với các chư thiên ấy trước đây hay không? Khi đó tri kiến của Ta sẽ càng thanh tịnh hơn nữa.'

Vì vậy, sau một thời gian... Ta tìm hiểu liệu Ta có từng chung sống với các chư thiên ấy trước đây hay không.

Chừng nào tri kiến của Ta về chư thiên chưa hoàn toàn thanh tịnh trong tám phương diện này, Ta chưa tuyên bố sự vô thượng chánh đẳng chánh giác (supreme perfect awakening / sự giác ngộ hoàn hảo, tối thượng) của mình trong thế giới này cùng với chư thiên, Ma vương (Māras / các thế lực cản trở sự tu tập) và Phạm thiên (Divinities / các vị trời ở cõi sắc và vô sắc), với chúng Sa-môn và Bà-la-môn (ascetics and brahmins / những người tu hành khổ hạnh và các tu sĩ Bà-la-môn giáo), với chư thiên và loài người.

Nhưng khi tri kiến của Ta về chư thiên đã hoàn toàn thanh tịnh trong tám phương diện này, Ta đã tuyên bố sự vô thượng chánh đẳng chánh giác của mình trong thế giới này cùng với chư thiên, Ma vương và Phạm thiên, với chúng Sa-môn và Bà-la-môn, với chư thiên và loài người. Tri kiến khởi lên trong Ta: 'Sự giải thoát của Ta là bất động; đây là lần tái sanh cuối cùng của Ta; bây giờ sẽ không còn đời sống nào trong tương lai nữa.'"

AN 8.65 Kinh Thắng Xứ (Abhibhāyatanasutta)

"Này các Tỷ kheo, có tám thắng xứ (dimensions of mastery / các cảnh giới làm chủ, các trạng thái vượt trội) này. Tám thắng xứ nào?

Người có tưởng về sắc bên trong, thấy các sắc bên ngoài, có giới hạn, cả đẹp lẫn xấu. Chế ngự chúng, vị ấy nhận thức: 'Tôi biết và tôi thấy.' Đây là thắng xứ thứ nhất.

Người có tưởng về sắc bên trong, thấy các sắc bên ngoài, vô lượng (limitless / không có giới hạn), cả đẹp lẫn xấu. Chế ngự chúng, vị ấy nhận thức: 'Tôi biết và tôi thấy.' Đây là thắng xứ thứ hai.

Người không có tưởng về sắc bên trong, thấy các sắc bên ngoài, có giới hạn, cả đẹp lẫn xấu. Chế ngự chúng, vị ấy nhận thức: 'Tôi biết và tôi thấy.' Đây là thắng xứ thứ ba.

Người không có tưởng về sắc bên trong, thấy các sắc bên ngoài, vô lượng, cả đẹp lẫn xấu. Chế ngự chúng, vị ấy nhận thức: 'Tôi biết và tôi thấy.' Đây là thắng xứ thứ tư.

Người không có tưởng về sắc bên trong, thấy các sắc bên ngoài, màu xanh, có sắc xanh, tướng xanh. Chế ngự chúng, vị ấy nhận thức: 'Tôi biết và tôi thấy.' Đây là thắng xứ thứ năm.

Người không có tưởng về sắc bên trong, thấy các sắc bên ngoài, màu vàng, có sắc vàng, tướng vàng. Chế ngự chúng, vị ấy nhận thức: 'Tôi biết và tôi thấy.' Đây là thắng xứ thứ sáu.

Người không có tưởng về sắc bên trong, thấy các sắc bên ngoài, màu đỏ, có sắc đỏ, tướng đỏ. Chế ngự chúng, vị ấy nhận thức: 'Tôi biết và tôi thấy.' Đây là thắng xứ thứ bảy.

Người không có tưởng về sắc bên trong, thấy các sắc bên ngoài, màu trắng, có sắc trắng, tướng trắng. Chế ngự chúng, vị ấy nhận thức: 'Tôi biết và tôi thấy.' Đây là thắng xứ thứ tám.

Đó là tám thắng xứ."

AN 8.66 Kinh Giải Thoát (Vimokkhasutta)

"Này các Tỷ kheo, có tám sự giải thoát (liberations / các trạng thái giải thoát tâm) này. Tám sự giải thoát nào? Có sắc thân, thấy các sắc. Đây là sự giải thoát thứ nhất.

Không có tưởng về sắc bên trong, thấy các sắc bên ngoài. Đây là sự giải thoát thứ hai.

Chỉ chuyên chú vào tịnh tướng (feature of beauty / vẻ đẹp, đối tượng thiền thanh tịnh). Đây là sự giải thoát thứ ba.

Vượt hoàn toàn các sắc tưởng (perceptions of form / nhận thức về hình sắc), chấm dứt các đối ngại tưởng (perceptions of impingement / nhận thức về sự va chạm, chướng ngại), không chú ý đến các đa dạng tưởng (perceptions of diversity / nhận thức về sự khác biệt, nhiều loại), nhận biết rằng 'không gian là vô biên', họ nhập và an trú vào không vô biên xứ (dimension of infinite space / cõi thiền định nơi không gian được nhận thức là vô hạn). Đây là sự giải thoát thứ tư.

Vượt hoàn toàn không vô biên xứ, nhận biết rằng 'ý thức là vô biên', họ nhập và an trú vào thức vô biên xứ (dimension of infinite consciousness / cõi thiền định nơi ý thức được nhận thức là vô hạn). Đây là sự giải thoát thứ năm.

Vượt hoàn toàn thức vô biên xứ, nhận biết rằng 'không có gì cả', họ nhập và an trú vào vô sở hữu xứ (dimension of nothingness / cõi thiền định nơi không có gì được nhận thức là tồn tại). Đây là sự giải thoát thứ sáu.

Vượt hoàn toàn vô sở hữu xứ, họ nhập và an trú vào phi tưởng phi phi tưởng xứ (dimension of neither perception nor non-perception / cõi thiền định nơi nhận thức không phải là có cũng không phải là không). Đây là sự giải thoát thứ bảy.

Vượt hoàn toàn phi tưởng phi phi tưởng xứ, họ nhập và an trú vào diệt tận định (cessation of perception and feeling / trạng thái chấm dứt hoàn toàn nhận thức và cảm thọ). Đây là sự giải thoát thứ tám.

Đó là tám sự giải thoát."

AN 8.67 Kinh Lời Nói Không Cao Thượng (Anariyavohārasutta)

"Này các Tỷ kheo, có tám lời nói không cao thượng (ignoble expressions / những cách nói không xứng đáng với bậc thánh) này. Tám lời nào? Nói rằng mình đã thấy, nghe, suy nghĩ, hay biết điều gì đó, nhưng thực ra không phải vậy. Và nói rằng mình không thấy, nghe, suy nghĩ, hay biết điều gì đó, nhưng thực ra lại có. Đó là tám lời nói không cao thượng."

AN 8.68 Kinh Lời Nói Cao Thượng (Ariyavohārasutta)

"Này các Tỷ kheo, có tám lời nói cao thượng (noble expressions / những cách nói xứng đáng với bậc thánh) này. Tám lời nào? Nói rằng mình không thấy, nghe, suy nghĩ, hay biết điều gì đó, và thực sự là không phải vậy. Và nói rằng mình đã thấy, nghe, suy nghĩ, hay biết điều gì đó, và thực sự là như vậy. Đó là tám lời nói cao thượng."

AN 8.69 Kinh Hội Chúng (Parisāsutta)

"Này các Tỷ kheo, có tám hội chúng (assemblies / các nhóm, các cuộc tụ họp) này. Tám hội chúng nào? Hội chúng Sát-đế-lỵ, Bà-la-môn, gia chủ và Sa-môn. Hội chúng chư thiên Tứ Đại Thiên Vương. Hội chúng chư thiên Ba Mươi Ba (Đao Lợi). Hội chúng Ma vương. Hội chúng Phạm thiên.

Ta nhớ đã từng đến một hội chúng gồm hàng trăm vị Sát-đế-lỵ. Ở đó Ta thường ngồi với họ, trò chuyện và tham gia thảo luận. Và dung sắc cùng giọng nói của Ta trở nên giống hệt họ. Ta giáo huấn, khích lệ, làm phấn chấn và truyền cảm hứng cho họ bằng một bài Pháp thoại. Nhưng khi Ta nói, họ không biết: 'Ai đang nói đây? Là trời hay người?' Và khi bài Pháp thoại của Ta kết thúc, Ta biến mất. Nhưng khi Ta biến mất, họ không biết: 'Ai đã biến mất vậy? Là trời hay người?'

Ta nhớ đã từng đến một hội chúng gồm hàng trăm vị Bà-la-môn... gia chủ... Sa-môn... chư thiên Tứ Đại Thiên Vương... chư thiên Ba Mươi Ba... Ma vương... Phạm thiên. Ở đó Ta cũng thường ngồi với họ, trò chuyện và tham gia thảo luận. Và dung sắc cùng giọng nói của Ta trở nên giống hệt họ. Ta giáo huấn, khích lệ, làm phấn chấn và truyền cảm hứng cho họ bằng một bài Pháp thoại. Nhưng khi Ta nói, họ không biết: 'Ai đang nói đây? Là trời hay người?' Và khi bài Pháp thoại của Ta kết thúc, Ta biến mất. Nhưng khi Ta biến mất, họ không biết: 'Ai đã biến mất vậy? Là trời hay người?' Đó là tám hội chúng."

AN 8.70 Kinh Động Đất (Bhūmicālasutta)

Một thời Đức Phật trú gần Vesālī, tại Đại Lâm, trong Trùng Các Giảng Đường (hall with the peaked roof / giảng đường có mái nhọn hoặc nhiều tầng).

Khi ấy, Đức Phật đắp y vào buổi sáng, mang theo bát và y, vào thành Vesālī để khất thực. Rồi, sau bữa ăn, trên đường từ nơi khất thực trở về, Ngài nói với Tôn giả A Nan: "A Nan, hãy lấy tọa cụ (sitting cloth / tấm vải để ngồi) của con. Chúng ta hãy đến miếu thờ (shrine / nơi thờ cúng, thường là một cây hoặc một cấu trúc nhỏ) Cāpāla để thiền định ban ngày."

"Vâng, bạch Thế Tôn," Tôn giả A Nan đáp. Lấy tọa cụ, ngài đi theo sau Đức Phật.

Rồi Đức Phật đến miếu Cāpāla, nơi Ngài ngồi trên tọa cụ đã được trải sẵn. Khi đã ngồi yên, Ngài nói với Tôn giả A Nan:

"A Nan, Vesālī thật đáng yêu. Và các miếu Udena, Gotamaka, Thất Nữ, Đa Tử, Sārandada, và Cāpāla cũng đều đáng yêu. Bất cứ ai đã phát triển và tu tập bốn thần túc (four bases of psychic power / bốn nền tảng của năng lực siêu nhiên) —biến chúng thành cỗ xe và nền tảng, duy trì chúng, củng cố chúng và thực hành chúng một cách đúng đắn—nếu muốn, có thể sống trọn vẹn tuổi thọ hoặc phần còn lại của tuổi thọ (proper lifespan or what's left of it / toàn bộ thời gian sống tối đa trong một kiếp hoặc phần còn lại). Như Lai (Realized One / Bậc đã đến như vậy, một danh hiệu của Phật) đã phát triển và tu tập bốn thần túc, biến chúng thành cỗ xe và nền tảng, duy trì chúng, củng cố chúng và thực hành chúng một cách đúng đắn. Nếu muốn, Như Lai có thể sống trọn vẹn tuổi thọ hoặc phần còn lại của tuổi thọ."

Nhưng Tôn giả A Nan không hiểu, dù Đức Phật đã đưa ra một gợi ý rõ ràng như vậy, một dấu hiệu hiển nhiên như vậy. Ngài không thỉnh cầu Đức Phật: "Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy trụ lại trọn một kiếp (eon / một khoảng thời gian rất dài, một đại kiếp)! Bạch Bậc Thánh, mong Ngài hãy trụ lại trọn một kiếp! Điều đó sẽ vì lợi ích và hạnh phúc của số đông, vì lòng thương tưởng đối với thế gian, vì lợi ích, phúc lợi và hạnh phúc của chư thiên và loài người." Vì tâm ngài như bị Ma ám ảnh.

Lần thứ hai...

Và lần thứ ba, Đức Phật nói với ngài:

"A Nan, Vesālī thật đáng yêu. Và các miếu Udena, Gotamaka, Thất Nữ, Đa Tử, Sārandada, và Cāpāla cũng đều đáng yêu. Bất cứ ai đã phát triển và tu tập bốn thần túc—biến chúng thành cỗ xe và nền tảng, duy trì chúng, củng cố chúng và thực hành chúng một cách đúng đắn—nếu muốn, có thể sống trọn vẹn tuổi thọ hoặc phần còn lại của tuổi thọ. Như Lai đã phát triển và tu tập bốn thần túc, biến chúng thành cỗ xe và nền tảng, duy trì chúng, củng cố chúng và thực hành chúng một cách đúng đắn. Nếu muốn, Như Lai có thể sống trọn vẹn tuổi thọ hoặc phần còn lại của tuổi thọ."

Nhưng Tôn giả A Nan không hiểu, dù Đức Phật đã đưa ra một gợi ý rõ ràng như vậy, một dấu hiệu hiển nhiên như vậy. Ngài không thỉnh cầu Đức Phật: "Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy trụ lại trọn một kiếp! Bạch Bậc Thánh, mong Ngài hãy trụ lại trọn một kiếp! Điều đó sẽ vì lợi ích và hạnh phúc của số đông, vì lòng thương tưởng đối với thế gian, vì lợi ích, phúc lợi và hạnh phúc của chư thiên và loài người." Vì tâm ngài như bị Ma ám ảnh.

Rồi Đức Phật nói với Tôn giả A Nan: "A Nan, con hãy đi làm việc của con."

"Vâng, bạch Thế Tôn," Tôn giả A Nan đáp. Ngài từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ và kính cẩn đi quanh Đức Phật, giữ Ngài ở bên phải, rồi ngồi xuống gốc cây gần đó.

Và rồi, không lâu sau khi Tôn giả A Nan rời đi, Ác ma Ba Tuần (Māra the Wicked / Ma vương xấu xa) nói với Đức Phật:

"Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy nhập Niết-bàn (fully extinguished / đạt đến sự tịch diệt hoàn toàn, chấm dứt khổ đau và tái sanh) ngay bây giờ! Mong Bậc Thánh hãy nhập Niết-bàn ngay bây giờ! Bây giờ là lúc để Đức Phật nhập Niết-bàn.

Bạch Thế Tôn, Ngài đã từng nói điều này: 'Này Ác ma, Ta sẽ không nhập Niết-bàn cho đến khi Ta có các đệ tử Tỷ-kheo có năng lực, có học thức, vững vàng, đa văn, thuộc lòng giáo pháp và thực hành đúng theo giáo pháp; cho đến khi họ thực hành đúng đắn, sống thuận theo giáo pháp; cho đến khi họ học thông truyền thống của mình, và giải thích, giảng dạy, khẳng định, thiết lập, làm rõ, phân tích và trình bày; cho đến khi họ có thể bác bỏ một cách hợp lý và hoàn toàn các học thuyết khác nảy sinh, và giảng dạy với một cơ sở có thể chứng minh được.' Hôm nay Ngài đã có những đệ tử Tỷ-kheo như vậy.

Mong Thế Tôn hãy nhập Niết-bàn ngay bây giờ! Mong Bậc Thánh hãy nhập Niết-bàn ngay bây giờ! Bây giờ là lúc để Đức Phật nhập Niết-bàn.

Bạch Thế Tôn, Ngài đã từng nói điều này: 'Này Ác ma, Ta sẽ không nhập Niết-bàn cho đến khi Ta có các đệ tử Tỳ-kheo-ni có năng lực, có học thức, vững vàng, đa văn...' ...

'Này Ác ma, Ta sẽ không nhập Niết-bàn cho đến khi Ta có các đệ tử Ưu-bà-tắc (layman disciples / nam cư sĩ Phật tử) có năng lực, có học thức, vững vàng, đa văn...' ...

'Này Ác ma, Ta sẽ không nhập Niết-bàn cho đến khi Ta có các đệ tử Ưu-bà-di (laywoman disciples / nữ cư sĩ Phật tử) có năng lực, có học thức, vững vàng, đa văn...' ... Hôm nay Ngài đã có những đệ tử Ưu-bà-di như vậy.

Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy nhập Niết-bàn ngay bây giờ! Mong Bậc Thánh hãy nhập Niết-bàn ngay bây giờ! Bây giờ là lúc để Đức Phật nhập Niết-bàn. Bạch Thế Tôn, Ngài đã từng nói điều này:

'Này Ác ma, Ta sẽ không nhập Niết-bàn cho đến khi con đường tâm linh của Ta thành công và thịnh vượng, rộng lớn, phổ biến, lan rộng và được công bố rộng rãi ở bất cứ nơi nào có chư thiên và loài người.' Hôm nay con đường tâm linh của Ngài đã thành công và thịnh vượng, rộng lớn, phổ biến, lan rộng và được công bố rộng rãi ở bất cứ nơi nào có chư thiên và loài người.

Bạch Thế Tôn, mong Thế Tôn hãy nhập Niết-bàn ngay bây giờ! Mong Bậc Thánh hãy nhập Niết-bàn ngay bây giờ! Bây giờ là lúc để Đức Phật nhập Niết-bàn."

"Hãy yên tâm, Ác ma. Như Lai sẽ sớm nhập Niết-bàn. Ba tháng nữa kể từ nay, Như Lai sẽ nhập Niết-bàn."

Vì vậy, tại miếu Cāpāla, Đức Phật, tỉnh thức và nhận biết rõ, đã từ bỏ mạng căn (life force / yếu tố duy trì sự sống). Khi Ngài làm vậy, có một trận động đất lớn, kinh hoàng và rợn tóc gáy, và sấm sét vang trời. Rồi, hiểu rõ việc này, nhân dịp đó Đức Phật đã nói lên lời cảm hứng tự phát này:

"So sánh cái vô lượng
>Với sự tạo tác của đời sống kéo dài,
Bậc Trí từ bỏ mạng căn.
Nội tâm hoan hỷ, định tĩnh,
Ngài phá tan sự tự tạo tác như một chiếc áo giáp."

Rồi Tôn giả A Nan nghĩ: "Đó thật là một trận động đất lớn! Đó thật là một trận động đất rất lớn; kinh hoàng và rợn tóc gáy, và sấm sét vang trời! Nguyên nhân là gì, lý do gì cho một trận động đất lớn như vậy?"

Rồi Tôn giả A Nan đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và thưa rằng: "Bạch Thế Tôn, đó thật là một trận động đất lớn! Đó thật là một trận động đất rất lớn; kinh hoàng và rợn tóc gáy, và sấm sét vang trời! Nguyên nhân là gì, lý do gì cho một trận động đất lớn như vậy?"

"A Nan, có tám nguyên nhân và lý do này cho một trận động đất lớn. Tám nguyên nhân nào?

Đại địa này nằm trên nước, nước nằm trên gió, và gió đứng vững trong không gian. Vào lúc một cơn gió lớn thổi, nó làm xáo động nước, và nước làm xáo động đất. Đây là nguyên nhân và lý do thứ nhất cho một trận động đất lớn.

Hơn nữa, có một vị Sa-môn hay Bà-la-môn có thần thông, đã làm chủ được tâm, hoặc một vị trời có đại thần lực, đại uy lực. Họ đã phát triển nhận thức hạn chế về đất và nhận thức vô hạn về nước. Họ làm cho đất rung chuyển, chao đảo và rung động. Đây là nguyên nhân và lý do thứ hai cho một trận động đất lớn.

Hơn nữa, khi vị Bồ-tát mệnh chung từ cõi trời Đâu Suất (host of joyful gods / cõi trời Tusita, nơi Bồ-tát thường tái sanh trước khi thành Phật), ngài nhập vào thai mẹ, tỉnh thức và nhận biết rõ. Khi đó đất rung chuyển, chao đảo và rung động. Đây là nguyên nhân và lý do thứ ba cho một trận động đất lớn.

Hơn nữa, khi vị Bồ-tát ra khỏi lòng mẹ, tỉnh thức và nhận biết rõ, đất rung chuyển, chao đảo và rung động. Đây là nguyên nhân và lý do thứ tư cho một trận động đất lớn.

Hơn nữa, khi Như Lai chứng ngộ Vô Thượng Chánh Đẳng Chánh Giác, đất rung chuyển, chao đảo và rung động. Đây là nguyên nhân và lý do thứ năm cho một trận động đất lớn.

Hơn nữa, khi Như Lai chuyển bánh xe Pháp vô thượng, đất rung chuyển, chao đảo và rung động. Đây là nguyên nhân và lý do thứ sáu cho một trận động đất lớn.

Hơn nữa, khi Như Lai, tỉnh thức và nhận biết rõ, từ bỏ mạng căn, đất rung chuyển, chao đảo và rung động. Đây là nguyên nhân và lý do thứ bảy cho một trận động đất lớn.

Hơn nữa, khi Như Lai nhập Niết-bàn trong Niết-bàn giới không còn dư y (element of extinguishment with no residue / trạng thái Niết-bàn hoàn toàn, không còn bất kỳ yếu tố nào của sự tồn tại), đất rung chuyển, chao đảo và rung động. Đây là nguyên nhân và lý do thứ tám cho một trận động đất lớn.

Đó là tám nguyên nhân và lý do cho một trận động đất lớn."