Phẩm Song Đối
AN 8.71 Gây Ấn Tượng Toàn Diện (1) Paṭhamasaddhāsutta
Này các Tỳ kheo, một Tỳ kheo có niềm tin nhưng không có giới đức(ethical conduct / hành vi đạo đức). Như vậy, vị ấy chưa trọn vẹn về phương diện đó, và nên làm cho trọn vẹn, suy nghĩ rằng: ‘Làm sao để ta trở thành người có niềm tin và có giới đức?’ Khi Tỳ kheo có niềm tin và có giới đức, vị ấy trọn vẹn về phương diện đó.
Một Tỳ kheo có niềm tin và có giới đức, nhưng không phải là người đa văn (learned / người học nhiều, nghe nhiều). Như vậy, vị ấy chưa trọn vẹn về phương diện đó, và nên làm cho trọn vẹn, suy nghĩ rằng: ‘Làm sao để ta trở thành người có niềm tin, có giới đức, và đa văn?’ Khi Tỳ kheo có niềm tin, có giới đức, và đa văn, vị ấy trọn vẹn về phương diện đó.
Một Tỳ kheo có niềm tin, có giới đức, và đa văn, nhưng không phải là người thuyết pháp... vị ấy không thường đến các hội chúng... vị ấy không tự tin thuyết pháp cho hội chúng... vị ấy không đạt được bốn tầng thiền (four absorptions / bốn tầng thiền định)—những trạng thái thiền định an lạc trong hiện tại thuộc về tâm cao hơn—bất cứ khi nào muốn, một cách dễ dàng, không khó khăn... vị ấy không chứng ngộ được vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát (undefiled freedom of heart and freedom by wisdom / sự giải thoát của tâm không còn ô nhiễm, sự giải thoát bằng trí tuệ) ngay trong đời này, và sống sau khi đã tự mình chứng ngộ bằng trí tuệ của mình nhờ sự chấm dứt các ô nhiễm (defilements / lậu hoặc, những phiền não làm tâm ô uế). Như vậy, vị ấy chưa trọn vẹn về phương diện đó, và nên làm cho trọn vẹn, suy nghĩ rằng: ‘Làm sao để ta trở thành người có niềm tin, có giới đức, đa văn, là người thuyết pháp, người thường đến các hội chúng, người tự tin thuyết pháp cho hội chúng, người đạt được bốn tầng thiền khi muốn, và người sống sau khi đã chứng ngộ sự chấm dứt các ô nhiễm?’
Khi vị ấy có niềm tin, có giới đức, đa văn, là người thuyết pháp, người thường đến các hội chúng, người tự tin thuyết pháp cho hội chúng, người đạt được bốn tầng thiền khi muốn, và người sống sau khi đã chứng ngộ sự chấm dứt các ô nhiễm, vị ấy trọn vẹn về phương diện đó. Một Tỳ kheo có tám phẩm chất này thì gây ấn tượng toàn diện, và trọn vẹn về mọi mặt.
AN 8.72 Gây Ấn Tượng Toàn Diện (2) Dutiyasaddhāsutta
Một Tỳ kheo có niềm tin, nhưng không có giới đức. Như vậy, vị ấy chưa trọn vẹn về phương diện đó, và nên làm cho trọn vẹn, suy nghĩ rằng: ‘Làm sao để ta trở thành người có niềm tin và có giới đức?’ Khi Tỳ kheo có niềm tin và có giới đức, vị ấy trọn vẹn về phương diện đó.
Một Tỳ kheo có niềm tin và có giới đức, nhưng không phải là người đa văn... vị ấy không phải là người thuyết pháp... vị ấy không thường đến các hội chúng... vị ấy không tự tin thuyết pháp cho hội chúng... vị ấy không có kinh nghiệm thiền định trực tiếp về các giải thoát vô sắc (formless liberations / các giải thoát thuộc cõi vô sắc, siêu vượt các đối tượng có hình tướng), những giải thoát an tịnh, siêu vượt hình tướng... vị ấy không chứng ngộ được vô lậu tâm giải thoát, tuệ giải thoát ngay trong đời này, và sống sau khi đã tự mình chứng ngộ bằng trí tuệ của mình nhờ sự chấm dứt các ô nhiễm. Như vậy, vị ấy chưa trọn vẹn về phương diện đó, và nên làm cho trọn vẹn, suy nghĩ rằng: ‘Làm sao để ta trở thành người có niềm tin, có giới đức, đa văn, là người thuyết pháp, người thường đến các hội chúng, người tự tin thuyết pháp cho hội chúng, người đạt được các giải thoát vô sắc, và người sống sau khi đã chứng ngộ sự chấm dứt các ô nhiễm?’
Khi vị ấy có niềm tin, có giới đức, đa văn, là người thuyết pháp, người thường đến các hội chúng, người tự tin thuyết pháp cho hội chúng, người đạt được các giải thoát vô sắc, và người sống sau khi đã chứng ngộ sự chấm dứt các ô nhiễm, vị ấy trọn vẹn về phương diện đó. Một Tỳ kheo có tám phẩm chất này thì gây ấn tượng toàn diện, và trọn vẹn về mọi mặt.
AN 8.73 Tỉnh Thức Về Cái Chết (1) Paṭhamamaraṇassatisutta
Một thời Đức Phật trú tại làng Nātika, trong nhà gạch. Tại đây, Đức Phật gọi các Tỳ kheo: "Này các Tỳ kheo!"
"Bạch Thế Tôn," họ đáp. Đức Phật nói điều này:
"Này các Tỳ kheo, khi sự tỉnh thức về cái chết (mindfulness of death / sự quán niệm về cái chết, sự ý thức rằng mình có thể chết bất cứ lúc nào) được tu tập và phát triển, nó có quả lớn, lợi ích lớn. Nó hướng đến bất tử và kết thúc ở bất tử. Nhưng các ông có tu tập sự tỉnh thức về cái chết không?"
Khi Ngài nói vậy, một Tỳ kheo thưa với Đức Phật: "Bạch Thế Tôn, con có tu tập sự tỉnh thức về cái chết."
"Nhưng này Tỳ kheo, ông tu tập nó như thế nào?"
"Bạch Thế Tôn, trong trường hợp này, con nghĩ: 'Ôi, nếu con chỉ sống thêm được một ngày một đêm nữa, con sẽ chú tâm vào lời dạy của Đức Phật và con thực sự có thể thành tựu được nhiều.' Đó là cách con tu tập sự tỉnh thức về cái chết."
Một Tỳ kheo khác thưa với Đức Phật: "Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập sự tỉnh thức về cái chết."
"Nhưng này Tỳ kheo, ông tu tập nó như thế nào?"
"Bạch Thế Tôn, trong trường hợp này, con nghĩ: 'Ôi, nếu con chỉ sống thêm được một ngày nữa, con sẽ chú tâm vào lời dạy của Đức Phật và con thực sự có thể thành tựu được nhiều.' Đó là cách con tu tập sự tỉnh thức về cái chết."
Một Tỳ kheo khác thưa với Đức Phật: "Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập sự tỉnh thức về cái chết."
"Nhưng này Tỳ kheo, ông tu tập nó như thế nào?"
"Bạch Thế Tôn, trong trường hợp này, con nghĩ: 'Ôi, nếu con chỉ sống thêm được nửa ngày nữa, con sẽ chú tâm vào lời dạy của Đức Phật và con thực sự có thể thành tựu được nhiều.' Đó là cách con tu tập sự tỉnh thức về cái chết."
Một Tỳ kheo khác thưa với Đức Phật: "Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập sự tỉnh thức về cái chết."
"Nhưng này Tỳ kheo, ông tu tập nó như thế nào?"
"Bạch Thế Tôn, trong trường hợp này, con nghĩ: 'Ôi, nếu con chỉ sống được bằng thời gian ăn một bữa khất thực, con sẽ chú tâm vào lời dạy của Đức Phật và con thực sự có thể thành tựu được nhiều.' Đó là cách con tu tập sự tỉnh thức về cái chết."
Một Tỳ kheo khác thưa với Đức Phật: "Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập sự tỉnh thức về cái chết."
"Nhưng này Tỳ kheo, ông tu tập nó như thế nào?"
"Bạch Thế Tôn, trong trường hợp này, con nghĩ: 'Ôi, nếu con chỉ sống được bằng thời gian ăn nửa bữa khất thực, con sẽ chú tâm vào lời dạy của Đức Phật và con thực sự có thể thành tựu được nhiều.' Đó là cách con tu tập sự tỉnh thức về cái chết."
Một Tỳ kheo khác thưa với Đức Phật: "Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập sự tỉnh thức về cái chết."
"Nhưng này Tỳ kheo, ông tu tập nó như thế nào?"
"Bạch Thế Tôn, trong trường hợp này, con nghĩ: 'Ôi, nếu con chỉ sống được bằng thời gian nhai và nuốt bốn năm miếng cơm, con sẽ chú tâm vào lời dạy của Đức Phật và con thực sự có thể thành tựu được nhiều.' Đó là cách con tu tập sự tỉnh thức về cái chết."
Một Tỳ kheo khác thưa với Đức Phật: "Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập sự tỉnh thức về cái chết."
"Nhưng này Tỳ kheo, ông tu tập nó như thế nào?"
"Bạch Thế Tôn, trong trường hợp này, con nghĩ: 'Ôi, nếu con chỉ sống được bằng thời gian nhai và nuốt một miếng cơm, con sẽ chú tâm vào lời dạy của Đức Phật và con thực sự có thể thành tựu được nhiều.' Đó là cách con tu tập sự tỉnh thức về cái chết."
Một Tỳ kheo khác thưa với Đức Phật: "Bạch Thế Tôn, con cũng tu tập sự tỉnh thức về cái chết."
"Nhưng này Tỳ kheo, ông tu tập nó như thế nào?"
"Bạch Thế Tôn, trong trường hợp này, con nghĩ: 'Ôi, nếu con chỉ sống được bằng thời gian thở ra sau khi hít vào, hoặc hít vào sau khi thở ra, con sẽ chú tâm vào lời dạy của Đức Phật và con thực sự có thể thành tựu được nhiều.' Đó là cách con tu tập sự tỉnh thức về cái chết."
Khi điều này được nói, Đức Phật nói với các Tỳ kheo ấy:
"Những Tỳ kheo tu tập sự tỉnh thức về cái chết bằng cách mong muốn sống thêm một ngày một đêm... hoặc sống thêm một ngày... hoặc sống thêm nửa ngày... hoặc sống bằng thời gian ăn một bữa khất thực... hoặc sống bằng thời gian ăn nửa bữa khất thực... hoặc sống bằng thời gian nhai và nuốt bốn năm miếng cơm... Những vị này được gọi là Tỳ kheo sống sao nhãng. Họ tu tập sự tỉnh thức về cái chết một cách chậm chạp để chấm dứt các ô nhiễm.
Nhưng những Tỳ kheo tu tập sự tỉnh thức về cái chết bằng cách mong muốn sống bằng thời gian nhai và nuốt một miếng cơm... hoặc sống bằng thời gian thở ra sau khi hít vào, hoặc hít vào sau khi thở ra... Những vị này được gọi là Tỳ kheo sống siêng năng. Họ tu tập sự tỉnh thức về cái chết một cách sắc bén để chấm dứt các ô nhiễm.
Vậy các ông nên tu tập như thế này: ‘Chúng ta sẽ sống siêng năng. Chúng ta sẽ tu tập sự tỉnh thức về cái chết một cách sắc bén để chấm dứt các ô nhiễm.’ Đó là cách các ông nên tu tập."
AN 8.74 Tỉnh Thức Về Cái Chết (2) Dutiyamaraṇassatisutta
Một thời Đức Phật trú tại làng Nātika, trong nhà gạch. Tại đây, Đức Phật nói với các Tỳ kheo: "Này các Tỳ kheo, khi sự tỉnh thức về cái chết được tu tập và phát triển, nó có quả lớn, lợi ích lớn. Nó hướng đến bất tử và kết thúc ở bất tử.
Và làm thế nào sự tỉnh thức về cái chết được tu tập và phát triển để có quả lớn, lợi ích lớn, để hướng đến bất tử và kết thúc ở bất tử? Khi ngày qua đi và đêm đến gần, một Tỳ kheo quán chiếu: ‘Ta có thể chết vì nhiều nguyên nhân. Một con rắn có thể cắn ta, hoặc một con bọ cạp hay con rết có thể chích ta. Và nếu ta chết vì điều đó, nó sẽ là một chướng ngại cho sự tiến bộ của ta. Hoặc ta có thể trượt chân té ngã, hoặc bị ngộ độc thực phẩm, hoặc bị rối loạn mật, đờm, hay gió đâm. Hoặc ta có thể bị người hay phi nhân tấn công. Và nếu ta chết vì điều đó, nó sẽ là một chướng ngại cho sự tiến bộ của ta.’ Tỳ kheo đó nên quán chiếu: ‘Có những phẩm chất xấu, bất thiện nào mà ta chưa từ bỏ, mà có thể là chướng ngại cho sự tiến bộ của ta nếu ta chết đêm nay không?’
Giả sử, khi kiểm tra, một Tỳ kheo biết rằng có những phẩm chất xấu, bất thiện như vậy. Thì để từ bỏ chúng, vị ấy nên nỗ lực mãnh liệt, cố gắng, nhiệt tâm, kiên trì, bền bỉ, tỉnh thức và nhận biết rõ ràng.
Giả sử quần áo hay đầu của ông bị cháy. Để dập tắt nó, ông sẽ nỗ lực mãnh liệt, cố gắng, nhiệt tâm, kiên trì, bền bỉ, tỉnh thức và nhận biết rõ ràng. Cũng vậy, để từ bỏ những phẩm chất xấu, bất thiện đó, Tỳ kheo ấy nên nỗ lực mãnh liệt...
Nhưng giả sử, khi kiểm tra, một Tỳ kheo biết rằng không có những phẩm chất xấu, bất thiện như vậy. Thì Tỳ kheo đó nên thiền định với niềm vui và hân hoan, rèn luyện ngày đêm trong các phẩm chất thiện.
Hoặc là, khi đêm qua đi và ngày đến gần, một Tỳ kheo quán chiếu: ‘Ta có thể chết vì nhiều nguyên nhân. Một con rắn có thể cắn ta, hoặc một con bọ cạp hay con rết có thể chích ta. Và nếu ta chết vì điều đó, nó sẽ là một chướng ngại cho sự tiến bộ của ta. Hoặc ta có thể trượt chân té ngã, hoặc bị ngộ độc thực phẩm, hoặc bị rối loạn mật, đờm, hay gió đâm. Hoặc ta có thể bị người hay phi nhân tấn công. Và nếu ta chết vì điều đó, nó sẽ là một chướng ngại cho sự tiến bộ của ta.’ Tỳ kheo đó nên quán chiếu: ‘Có những phẩm chất xấu, bất thiện nào mà ta chưa từ bỏ, mà có thể là chướng ngại cho sự tiến bộ của ta nếu ta chết hôm nay không?’
Giả sử, khi kiểm tra, một Tỳ kheo biết rằng có những phẩm chất xấu, bất thiện như vậy. Thì để từ bỏ chúng, vị ấy nên nỗ lực mãnh liệt, cố gắng, nhiệt tâm, kiên trì, bền bỉ, tỉnh thức và nhận biết rõ ràng.
Giả sử quần áo hay đầu của ông bị cháy. Để dập tắt nó, ông sẽ nỗ lực mãnh liệt, cố gắng, nhiệt tâm, kiên trì, bền bỉ, tỉnh thức và nhận biết rõ ràng. Cũng vậy, để từ bỏ những phẩm chất xấu, bất thiện đó, Tỳ kheo ấy nên nỗ lực mãnh liệt...
Nhưng giả sử, khi kiểm tra, một Tỳ kheo biết rằng không có những phẩm chất xấu, bất thiện như vậy. Thì Tỳ kheo đó nên thiền định với niềm vui và hân hoan, rèn luyện ngày đêm trong các phẩm chất thiện. Sự tỉnh thức về cái chết, khi được tu tập và phát triển theo cách này, có quả lớn, lợi ích lớn. Nó hướng đến bất tử và kết thúc ở bất tử."
AN 8.75 Các Thành Tựu (1) Paṭhamasampadāsutta
"Này các Tỳ kheo, có tám thành tựu (accomplishments / sự hoàn thành, đạt được) này. Tám thành tựu nào? Thành tựu về siêng năng khởi xướng (initiative / utthānasampadā, sự chủ động, nỗ lực bắt đầu công việc), hộ trì (protection / ārakkhasampadā, sự bảo vệ, giữ gìn), thiện hữu (good friendship / kalyāṇamittatā, tình bạn tốt đẹp, bạn lành), và chi tiêu quân bình (balanced finances / samajīvikatā, sự cân đối thu chi). Và thành tựu về niềm tin, giới đức, hào phóng (generosity / cāgasampadā, sự rộng rãi, cho đi), và trí tuệ. Đây là tám thành tựu.
Họ siêng năng nơi làm việc,
chuyên cần trong quản lý,
họ chi tiêu quân bình,
và gìn giữ tài sản.Có niềm tin, thành tựu giới đức,
Hào phóng, thoát khỏi keo kiệt,
họ luôn thanh lọc con đường
đến hạnh phúc trong đời sau.Và tám phẩm chất này
của người gia chủ có niềm tin
được bậc Chân Danh tuyên bố
đưa đến hạnh phúc ở cả hai cõi,phúc lợi và lợi ích trong đời này,
và hạnh phúc trong đời sau.
Đây là cách, đối với người gia chủ,
phước đức tăng trưởng nhờ hào phóng."
AN 8.76 Các Thành Tựu (2) Dutiyasampadāsutta
"Này các Tỳ kheo, có tám thành tựu này. Tám thành tựu nào? Thành tựu về siêng năng khởi xướng, hộ trì, thiện hữu, và chi tiêu quân bình. Và thành tựu về niềm tin, giới đức, hào phóng, và trí tuệ.
Và thế nào là thành tựu về siêng năng khởi xướng? Đó là khi một người thiện gia nam tử kiếm sống bằng các phương tiện như làm ruộng, buôn bán, chăn nuôi gia súc, bắn cung, phục vụ chính quyền, hoặc một trong các nghề nghiệp. Vị ấy hiểu biết cách thực hiện những việc này để hoàn thành và tổ chức công việc. Đây gọi là thành tựu về siêng năng khởi xướng.
Và thế nào là thành tựu về hộ trì? Đó là khi một người thiện gia nam tử sở hữu tài sản hợp pháp mà vị ấy đã kiếm được bằng nỗ lực và sự siêng năng khởi xướng của mình, gây dựng bằng đôi tay, thu thập bằng mồ hôi nước mắt. Vị ấy đảm bảo nó được canh giữ và bảo vệ, suy nghĩ rằng: ‘Làm sao để tài sản của ta không bị vua chúa hay trộm cướp lấy mất, không bị lửa thiêu, nước cuốn trôi, hay bị những người thừa kế không mong muốn chiếm đoạt?’ Đây gọi là thành tựu về hộ trì.
Và thế nào là thành tựu về thiện hữu? Đó là khi một người thiện gia nam tử cư ngụ trong một thị trấn hay làng mạc. Và ở nơi đó có những người gia chủ hoặc con cái họ, dù trẻ hay già, nhưng chín chắn trong hành vi, thành tựu về niềm tin, giới đức, hào phóng, và trí tuệ. Vị ấy giao du với họ, trò chuyện và tham gia thảo luận. Và vị ấy noi theo sự thành tựu tương tự về niềm tin, giới đức, hào phóng, và trí tuệ. Đây gọi là thành tựu về thiện hữu.
Và thế nào là thành tựu về chi tiêu quân bình? Đó là khi một người thiện gia nam tử, biết thu nhập và chi tiêu của mình, cân đối tài chính, không quá hoang phí cũng không quá dè sẻn. Vị ấy nghĩ: ‘Bằng cách này, thu nhập của ta sẽ vượt quá chi tiêu, chứ không phải ngược lại.’ Giống như một người thẩm định giá hoặc người học việc của họ, khi cầm cân, biết rằng nó thấp hơn bao nhiêu hoặc cao hơn bao nhiêu. Cũng vậy, một người thiện gia nam tử, biết thu nhập và chi tiêu của mình, cân đối tài chính, không quá hoang phí cũng không quá dè sẻn. Vị ấy nghĩ: ‘Bằng cách này, thu nhập của ta sẽ vượt quá chi tiêu, chứ không phải ngược lại.’ Nếu một người thiện gia nam tử có ít thu nhập nhưng sống xa hoa, người ta sẽ nói: ‘Người này tiêu xài tài sản như người ăn quả vả!’ Nếu một người thiện gia nam tử có thu nhập lớn nhưng sống khổ hạnh, người ta sẽ nói: ‘Người này đang tự bỏ đói mình đến chết!’ Nhưng một người thiện gia nam tử, biết thu nhập và chi tiêu của mình, sống một cuộc sống quân bình, không quá hoang phí cũng không quá dè sẻn, suy nghĩ rằng: ‘Bằng cách này, thu nhập của ta sẽ vượt quá chi tiêu, chứ không phải ngược lại.’ Đây gọi là thành tựu về chi tiêu quân bình.
Và thế nào là thành tựu về niềm tin? Đó là khi một người thiện gia nam tử có niềm tin vào sự giác ngộ của Đấng Như Lai: ‘Đức Thế Tôn đó là bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Chánh Giác... bậc Thầy của trời người, Phật, Thế Tôn.’ Đây gọi là thành tựu về niềm tin.
Và thế nào là thành tựu về giới đức? Đó là khi một người thiện gia nam tử không sát sinh, không trộm cắp, không tà dâm, không nói dối, không dùng các chất say như rượu bia và rượu mạnh. Đây gọi là thành tựu về giới đức.
Và thế nào là thành tựu về hào phóng? Đó là khi một người thiện gia nam tử sống tại gia, tâm không còn vết nhơ của keo kiệt, rộng rãi cho đi, tay sẵn sàng ban phát, thích buông xả, chuyên tâm làm từ thiện, thích cho và chia sẻ. Đây gọi là thành tựu về hào phóng.
Và thế nào là thành tựu về trí tuệ? Đó là khi một người thiện gia nam tử có trí tuệ. Vị ấy có trí tuệ về sự sinh diệt, thánh thiện, thâm nhập, và dẫn đến sự chấm dứt hoàn toàn khổ đau. Đây gọi là thành tựu về trí tuệ.
Đây là tám thành tựu.
Họ siêng năng nơi làm việc,
chuyên cần trong quản lý,
họ chi tiêu quân bình,
và gìn giữ tài sản.Có niềm tin, thành tựu giới đức,
Hào phóng, thoát khỏi keo kiệt,
họ luôn thanh lọc con đường
đến hạnh phúc trong đời sau.Và tám phẩm chất này
của người gia chủ có niềm tin
được bậc Chân Danh tuyên bố
đưa đến hạnh phúc ở cả hai cõi,phúc lợi và lợi ích trong đời này,
và hạnh phúc trong đời sau.
Đây là cách, đối với người gia chủ,
phước đức tăng trưởng nhờ hào phóng."
AN 8.77 Các Ham Muốn Icchāsutta
Tại đó, Tôn giả Xá Lợi Phất nói với các Tỳ kheo: "Này các Hiền giả Tỳ kheo!"
"Thưa Hiền giả," họ đáp. Tôn giả Xá Lợi Phất nói điều này:
"Này các Hiền giả, có tám hạng người này được tìm thấy trên đời. Tám hạng người nào?
Thứ nhất, khi một Tỳ kheo sống độc cư, viễn ly, một ham muốn về lợi lộc (material things / lābha, của cải vật chất, sự được lợi) khởi lên. Vị ấy cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Nhưng lợi lộc không đến với vị ấy. Và vì vậy vị ấy buồn rầu, than khóc, kêu la, đấm ngực và rơi vào hoang mang vì không có được những lợi lộc đó. Đây gọi là một Tỳ kheo sống ham muốn lợi lộc. Vị ấy cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Nhưng khi không có được lợi lộc, vị ấy buồn rầu và than khóc. Vị ấy đã rơi khỏi chánh pháp.
Tiếp theo, khi một Tỳ kheo sống độc cư, viễn ly, một ham muốn về lợi lộc khởi lên. Vị ấy cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Và lợi lộc đến với vị ấy. Và vì vậy vị ấy trở nên ham đắm và rơi vào sao nhãng đối với những lợi lộc đó. Đây gọi là một Tỳ kheo sống ham muốn lợi lộc. Vị ấy cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Và khi có được lợi lộc, vị ấy trở nên say đắm và sao nhãng. Vị ấy đã rơi khỏi chánh pháp.
Tiếp theo, khi một Tỳ kheo sống độc cư, viễn ly, một ham muốn về lợi lộc khởi lên. Vị ấy không cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Và lợi lộc không đến với vị ấy. Và vì vậy vị ấy buồn rầu, than khóc, kêu la, đấm ngực và rơi vào hoang mang vì không có được những lợi lộc đó. Đây gọi là một Tỳ kheo sống ham muốn lợi lộc. Vị ấy không cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Nhưng khi không có được lợi lộc, vị ấy buồn rầu và than khóc. Vị ấy đã rơi khỏi chánh pháp.
Tiếp theo, khi một Tỳ kheo sống độc cư, viễn ly, một ham muốn về lợi lộc khởi lên. Vị ấy không cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Nhưng lợi lộc đến với vị ấy. Và vì vậy vị ấy trở nên ham đắm và rơi vào sao nhãng đối với những lợi lộc đó. Đây gọi là một Tỳ kheo sống ham muốn lợi lộc. Vị ấy không cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Nhưng khi có được lợi lộc, vị ấy trở nên say đắm và sao nhãng. Vị ấy đã rơi khỏi chánh pháp.
Tiếp theo, khi một Tỳ kheo sống độc cư, viễn ly, một ham muốn về lợi lộc khởi lên. Vị ấy cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Nhưng lợi lộc không đến với vị ấy. Nhưng vị ấy không buồn rầu, than khóc, kêu la, đấm ngực và rơi vào hoang mang vì không có được những lợi lộc đó. Đây gọi là một Tỳ kheo sống ham muốn lợi lộc. Vị ấy cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Nhưng khi không có được lợi lộc, vị ấy không buồn rầu và than khóc. Vị ấy không rơi khỏi chánh pháp.
Tiếp theo, khi một Tỳ kheo sống độc cư, viễn ly, một ham muốn về lợi lộc khởi lên. Vị ấy cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Và lợi lộc đến với vị ấy. Nhưng vị ấy không trở nên ham đắm và rơi vào sao nhãng đối với những lợi lộc đó. Đây gọi là một Tỳ kheo sống ham muốn lợi lộc. Vị ấy cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Nhưng khi có được lợi lộc, vị ấy không trở nên say đắm và sao nhãng. Vị ấy không rơi khỏi chánh pháp.
Tiếp theo, khi một Tỳ kheo sống độc cư, viễn ly, một ham muốn về lợi lộc khởi lên. Vị ấy không cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Và lợi lộc không đến với vị ấy. Nhưng vị ấy không buồn rầu, than khóc, kêu la, đấm ngực và rơi vào hoang mang vì không có được những lợi lộc đó. Đây gọi là một Tỳ kheo sống ham muốn lợi lộc. Vị ấy không cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Và khi không có được lợi lộc, vị ấy không buồn rầu và than khóc. Vị ấy không rơi khỏi chánh pháp.
Tiếp theo, khi một Tỳ kheo sống độc cư, viễn ly, một ham muốn về lợi lộc khởi lên. Vị ấy không cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Nhưng lợi lộc đến với vị ấy. Nhưng vị ấy không trở nên ham đắm và rơi vào sao nhãng đối với những lợi lộc đó. Đây gọi là một Tỳ kheo sống ham muốn lợi lộc. Vị ấy không cố gắng, nỗ lực, và gắng sức để có được chúng. Và khi có được lợi lộc, vị ấy không trở nên say đắm và sao nhãng. Vị ấy không rơi khỏi chánh pháp.
Tám hạng người này được tìm thấy trên đời."
AN 8.78 Đủ Tốt Alaṁsutta
Tại đó, Tôn giả Xá Lợi Phất nói với các Tỳ kheo: "Này các Hiền giả, một Tỳ kheo có sáu phẩm chất thì đủ tốt cho mình và cho người khác. Sáu phẩm chất nào? Một Tỳ kheo nhanh trí đối với các giáo pháp thiện xảo. Vị ấy dễ dàng ghi nhớ những giáo pháp đã nghe. Vị ấy thẩm xét ý nghĩa của những giáo pháp đã ghi nhớ. Hiểu rõ ý nghĩa và giáo pháp, vị ấy thực hành theo đó. Vị ấy là người nói giỏi, phát âm rõ ràng. Giọng nói của vị ấy trau chuốt, trong trẻo, mạch lạc và diễn đạt được ý nghĩa. Vị ấy giáo huấn, khuyến khích, khích lệ và truyền cảm hứng cho các bạn đồng tu. Một Tỳ kheo có sáu phẩm chất này thì đủ tốt cho mình và cho người khác.
Một Tỳ kheo có năm phẩm chất thì đủ tốt cho mình và cho người khác. Năm phẩm chất nào? Một Tỳ kheo không nhanh trí đối với các giáo pháp thiện xảo. Vị ấy dễ dàng ghi nhớ những giáo pháp đã nghe. Vị ấy thẩm xét ý nghĩa của những giáo pháp đã ghi nhớ. Hiểu rõ ý nghĩa và giáo pháp, vị ấy thực hành theo đó. Vị ấy là người nói giỏi. Giọng nói của vị ấy trau chuốt, trong trẻo, mạch lạc và diễn đạt được ý nghĩa. Vị ấy giáo huấn, khuyến khích, khích lệ và truyền cảm hứng cho các bạn đồng tu. Một Tỳ kheo có năm phẩm chất này thì đủ tốt cho mình và cho người khác.
Một Tỳ kheo có bốn phẩm chất thì đủ tốt cho mình nhưng không đủ tốt cho người khác. Bốn phẩm chất nào? Một Tỳ kheo nhanh trí đối với các giáo pháp thiện xảo. Vị ấy dễ dàng ghi nhớ những giáo pháp đã nghe. Vị ấy thẩm xét ý nghĩa của những giáo pháp đã ghi nhớ. Hiểu rõ ý nghĩa và giáo pháp, vị ấy thực hành theo đó. Vị ấy không phải là người nói giỏi. Giọng nói của vị ấy không trau chuốt, trong trẻo, mạch lạc và không diễn đạt được ý nghĩa. Vị ấy không giáo huấn, khuyến khích, khích lệ và truyền cảm hứng cho các bạn đồng tu. Một Tỳ kheo có bốn phẩm chất này thì đủ tốt cho mình nhưng không đủ tốt cho người khác.
Một Tỳ kheo có bốn phẩm chất thì đủ tốt cho người khác nhưng không đủ tốt cho mình. Bốn phẩm chất nào? Một Tỳ kheo nhanh trí đối với các giáo pháp thiện xảo. Vị ấy dễ dàng ghi nhớ những giáo pháp đã nghe. Nhưng vị ấy không thẩm xét ý nghĩa của những giáo pháp đã ghi nhớ. Không hiểu rõ ý nghĩa và giáo pháp, vị ấy không thực hành theo đó. Vị ấy là người nói giỏi. Giọng nói của vị ấy trau chuốt, trong trẻo, mạch lạc và diễn đạt được ý nghĩa. Vị ấy giáo huấn, khuyến khích, khích lệ và truyền cảm hứng cho các bạn đồng tu. Một Tỳ kheo có bốn phẩm chất này thì đủ tốt cho người khác nhưng không đủ tốt cho mình.
Một Tỳ kheo có ba phẩm chất thì đủ tốt cho mình nhưng không đủ tốt cho người khác. Ba phẩm chất nào? Một Tỳ kheo không nhanh trí đối với các giáo pháp thiện xảo. Vị ấy dễ dàng ghi nhớ những giáo pháp đã nghe. Vị ấy thẩm xét ý nghĩa của những giáo pháp đã ghi nhớ. Hiểu rõ ý nghĩa và giáo pháp, vị ấy thực hành theo đó. Vị ấy không phải là người nói giỏi. Giọng nói của vị ấy không trau chuốt, trong trẻo, mạch lạc và không diễn đạt được ý nghĩa. Vị ấy không giáo huấn, khuyến khích, khích lệ và truyền cảm hứng cho các bạn đồng tu. Một Tỳ kheo có ba phẩm chất này thì đủ tốt cho mình nhưng không đủ tốt cho người khác.
Một Tỳ kheo có ba phẩm chất thì đủ tốt cho người khác nhưng không đủ tốt cho mình. Ba phẩm chất nào? Một Tỳ kheo không nhanh trí đối với các giáo pháp thiện xảo. Vị ấy dễ dàng ghi nhớ những giáo pháp đã nghe. Nhưng vị ấy không thẩm xét ý nghĩa của những giáo pháp đã ghi nhớ. Không hiểu rõ ý nghĩa và giáo pháp, vị ấy không thực hành theo đó. Vị ấy là người nói giỏi. Giọng nói của vị ấy trau chuốt, trong trẻo, mạch lạc và diễn đạt được ý nghĩa. Vị ấy giáo huấn, khuyến khích, khích lệ và truyền cảm hứng cho các bạn đồng tu. Một Tỳ kheo có ba phẩm chất này thì đủ tốt cho người khác nhưng không đủ tốt cho mình.
Một Tỳ kheo có hai phẩm chất thì đủ tốt cho mình nhưng không đủ tốt cho người khác. Hai phẩm chất nào? Một Tỳ kheo không nhanh trí đối với các giáo pháp thiện xảo. Và vị ấy không dễ dàng ghi nhớ những giáo pháp đã nghe. Vị ấy thẩm xét ý nghĩa của những giáo pháp đã ghi nhớ. Hiểu rõ ý nghĩa và giáo pháp, vị ấy thực hành theo đó. Vị ấy không phải là người nói giỏi. Giọng nói của vị ấy không trau chuốt, trong trẻo, mạch lạc và không diễn đạt được ý nghĩa. Vị ấy không giáo huấn, khuyến khích, khích lệ và truyền cảm hứng cho các bạn đồng tu. Một Tỳ kheo có hai phẩm chất này thì đủ tốt cho mình nhưng không đủ tốt cho người khác.
Một Tỳ kheo có hai phẩm chất thì đủ tốt cho người khác nhưng không đủ tốt cho mình. Hai phẩm chất nào? Một Tỳ kheo không nhanh trí đối với các giáo pháp thiện xảo. Và vị ấy không dễ dàng ghi nhớ những giáo pháp đã nghe. Vị ấy cũng không thẩm xét ý nghĩa của những giáo pháp đã ghi nhớ. Không hiểu rõ ý nghĩa và giáo pháp, vị ấy không thực hành theo đó. Vị ấy là người nói giỏi, phát âm rõ ràng. Giọng nói của vị ấy trau chuốt, trong trẻo, mạch lạc và diễn đạt được ý nghĩa. Vị ấy giáo huấn, khuyến khích, khích lệ và truyền cảm hứng cho các bạn đồng tu. Một Tỳ kheo có hai phẩm chất này thì đủ tốt cho người khác nhưng không đủ tốt cho mình."
AN 8.79 Suy Thoái Parihānasutta
"Tám điều này dẫn đến sự suy thoái của một Tỳ kheo hữu học (trainee / sekha, người còn đang tu học, chưa phải A-la-hán). Tám điều nào? Vị ấy thích thú công việc, nói chuyện, ngủ nghỉ và hội họp. Vị ấy không phòng hộ các giác quan và ăn quá nhiều. Vị ấy thích thú sự gần gũi và sự lan rộng của tâm trí (proliferation / prapañca, sự suy diễn, phân biệt, lan man của tâm). Tám điều này dẫn đến sự suy thoái của một Tỳ kheo hữu học.
Tám điều này không dẫn đến sự suy thoái của một Tỳ kheo hữu học. Tám điều nào? Vị ấy không thích thú công việc, nói chuyện, ngủ nghỉ và hội họp. Vị ấy phòng hộ các giác quan, và không ăn quá nhiều. Vị ấy không thích thú sự gần gũi và sự lan rộng của tâm trí. Tám điều này không dẫn đến sự suy thoái của một Tỳ kheo hữu học."
AN 8.80 Căn Cứ Của Sự Lười Biếng và Khơi Dậy Nghị Lực Kusītārambhavatthusutta
"Này các Tỳ kheo, có tám căn cứ của sự lười biếng (grounds for laziness / kusītavatthu, những lý do, cơ sở dẫn đến lười biếng). Tám căn cứ nào?
Thứ nhất, một Tỳ kheo có việc phải làm. Vị ấy nghĩ: ‘Ta có việc phải làm. Nhưng khi làm việc, thân thể ta sẽ mệt mỏi. Ta nên nằm nghỉ một chút.’ Vị ấy nằm nghỉ, và không khơi dậy nghị lực để đạt được những gì chưa đạt, thành tựu những gì chưa thành tựu, và chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Đây là căn cứ thứ nhất của sự lười biếng.
Hơn nữa, một Tỳ kheo đã làm xong việc. Vị ấy nghĩ: ‘Ta đã làm xong việc. Nhưng khi làm việc, thân thể ta đã mệt mỏi. Ta nên nằm nghỉ một chút.’ Vị ấy nằm nghỉ, và không khơi dậy nghị lực để đạt được những gì chưa đạt, thành tựu những gì chưa thành tựu, và chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Đây là căn cứ thứ hai của sự lười biếng.
Hơn nữa, một Tỳ kheo phải đi đường. Vị ấy nghĩ: ‘Ta phải đi đường. Nhưng khi đi, thân thể ta sẽ mệt mỏi. Ta nên nằm nghỉ một chút.’ Vị ấy nằm nghỉ, và không khơi dậy nghị lực để đạt được những gì chưa đạt, thành tựu những gì chưa thành tựu, và chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Đây là căn cứ thứ ba của sự lười biếng.
Hơn nữa, một Tỳ kheo đã đi đường xong. Vị ấy nghĩ: ‘Ta đã đi đường xong. Nhưng khi đi, thân thể ta đã mệt mỏi. Ta nên nằm nghỉ một chút.’ Vị ấy nằm nghỉ, và không khơi dậy nghị lực để đạt được những gì chưa đạt, thành tựu những gì chưa thành tựu, và chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Đây là căn cứ thứ tư của sự lười biếng.
Hơn nữa, một Tỳ kheo đã đi khất thực, nhưng không nhận được đủ thức ăn thô hay tế theo ý muốn để no bụng. Vị ấy nghĩ: ‘Ta đã đi khất thực, nhưng không nhận được đủ thức ăn thô hay tế theo ý muốn để no bụng. Thân thể ta mệt mỏi và không thích hợp để làm việc. Ta nên nằm nghỉ một chút.’ Vị ấy nằm nghỉ, và không khơi dậy nghị lực để thành tựu những gì chưa thành tựu, đạt được những gì chưa đạt, và chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Đây là căn cứ thứ năm của sự lười biếng.
Hơn nữa, một Tỳ kheo đã đi khất thực, và nhận được đủ thức ăn thô hay tế theo ý muốn để no bụng. Vị ấy nghĩ: ‘Ta đã đi khất thực, và nhận được đủ thức ăn thô hay tế theo ý muốn để no bụng. Thân thể ta nặng nề, không thích hợp để làm việc, giống như vừa ăn một bụng đậu. Ta nên nằm nghỉ một chút.’ Vị ấy nằm nghỉ, và không khơi dậy nghị lực để thành tựu những gì chưa thành tựu, đạt được những gì chưa đạt, và chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Đây là căn cứ thứ sáu của sự lười biếng.
Hơn nữa, một Tỳ kheo cảm thấy hơi bệnh. Vị ấy nghĩ: ‘Ta cảm thấy hơi bệnh. Nằm nghỉ sẽ tốt cho ta. Ta nên nằm nghỉ một chút.’ Vị ấy nằm nghỉ, và không khơi dậy nghị lực để thành tựu những gì chưa thành tựu, đạt được những gì chưa đạt, và chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Đây là căn cứ thứ bảy của sự lười biếng.
Hơn nữa, một Tỳ kheo vừa mới khỏi bệnh. Vị ấy nghĩ: ‘Ta vừa mới khỏi bệnh. Thân thể ta yếu ớt và không thích hợp để làm việc. Ta nên nằm nghỉ một chút.’ Vị ấy nằm nghỉ, và không khơi dậy nghị lực để đạt được những gì chưa đạt, thành tựu những gì chưa thành tựu, và chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Đây là căn cứ thứ tám của sự lười biếng. Đây là tám căn cứ của sự lười biếng.
Có tám căn cứ để khơi dậy nghị lực (grounds for arousing energy / ārambhavatthu, những lý do, cơ sở để tinh tấn). Tám căn cứ nào? Thứ nhất, một Tỳ kheo có việc phải làm. Vị ấy nghĩ: ‘Ta có việc phải làm. Khi làm việc thì không dễ để chú tâm vào lời dạy của các Đức Phật. Ta nên sớm khơi dậy nghị lực để đạt được những gì chưa đạt, thành tựu những gì chưa thành tựu, và chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ.’ Vị ấy khơi dậy nghị lực để đạt được những gì chưa đạt, thành tựu những gì chưa thành tựu, và chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Đây là căn cứ thứ nhất để khơi dậy nghị lực.
Hơn nữa, một Tỳ kheo đã làm xong việc. Vị ấy nghĩ: ‘Ta đã làm xong việc. Khi làm việc, ta đã không thể chú tâm vào lời dạy của các Đức Phật. Ta nên sớm khơi dậy nghị lực để đạt được những gì chưa đạt, thành tựu những gì chưa thành tựu, và chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ.’ Vị ấy khơi dậy nghị lực... Đây là căn cứ thứ hai để khơi dậy nghị lực.
Hơn nữa, một Tỳ kheo phải đi đường. Vị ấy nghĩ: ‘Ta phải đi đường. Khi đi thì không dễ để chú tâm vào lời dạy của các Đức Phật. Ta nên sớm khơi dậy nghị lực...’ ... Đây là căn cứ thứ ba để khơi dậy nghị lực.
Hơn nữa, một Tỳ kheo đã đi đường xong. Vị ấy nghĩ: ‘Ta đã đi đường xong. Khi đi, ta đã không thể chú tâm vào lời dạy của các Đức Phật. Ta nên sớm khơi dậy nghị lực...’ ... Đây là căn cứ thứ tư để khơi dậy nghị lực.
Hơn nữa, một Tỳ kheo đã đi khất thực, nhưng không nhận được đủ thức ăn thô hay tế theo ý muốn để no bụng. Vị ấy nghĩ: ‘Ta đã đi khất thực, nhưng không nhận được đủ thức ăn thô hay tế theo ý muốn để no bụng. Thân thể ta nhẹ nhàng và thích hợp để làm việc. Ta nên sớm khơi dậy nghị lực...’ ... Đây là căn cứ thứ năm để khơi dậy nghị lực.
Hơn nữa, một Tỳ kheo đã đi khất thực, và nhận được đủ thức ăn thô hay tế theo ý muốn để no bụng. Vị ấy nghĩ: ‘Ta đã đi khất thực, và nhận được đủ thức ăn thô hay tế theo ý muốn để no bụng. Thân thể ta khỏe mạnh và thích hợp để làm việc. Ta nên sớm khơi dậy nghị lực...’ ... Đây là căn cứ thứ sáu để khơi dậy nghị lực.
Hơn nữa, một Tỳ kheo cảm thấy hơi bệnh. Vị ấy nghĩ: ‘Ta cảm thấy hơi bệnh. Có thể bệnh này sẽ trở nặng hơn. Ta nên sớm khơi dậy nghị lực...’ ... Đây là căn cứ thứ bảy để khơi dậy nghị lực.
Hơn nữa, một Tỳ kheo vừa mới khỏi bệnh. Vị ấy nghĩ: ‘Ta vừa mới khỏi bệnh. Có thể bệnh sẽ tái phát. Ta nên sớm khơi dậy nghị lực để đạt được những gì chưa đạt, thành tựu những gì chưa thành tựu, và chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ.’ Vị ấy khơi dậy nghị lực để đạt được những gì chưa đạt, thành tựu những gì chưa thành tựu, và chứng ngộ những gì chưa chứng ngộ. Đây là căn cứ thứ tám để khơi dậy nghị lực.
Đây là tám căn cứ để khơi dậy nghị lực."