Phẩm về các Trưởng Lão Tỳ Kheo
AN 10.81 Với Bāhuna Vāhanasutta (Kinh Vāhana)
Một thời Đức Phật trú gần Campā, bên bờ hồ sen Gaggarā. Khi ấy, Tôn giả Bāhuna đến gặp Đức Phật, đảnh lễ rồi ngồi xuống một bên và thưa:
"Bạch Thế Tôn, Như Lai (Realized One / bậc đã giác ngộ chân lý, đã đến và đi như các vị Phật quá khứ) đã thoát khỏi bao nhiêu pháp, để Ngài sống ly tham (detached / không còn tham ái, tách rời khỏi sự dính mắc), giải thoát (liberated / thoát khỏi khổ đau và ràng buộc), với tâm vô hạn lượng (mind free of limits / tâm không còn bị giới hạn bởi phiền não)?"
"Này Bāhuna, Như Lai đã thoát khỏi mười pháp, do đó Ngài sống ly tham, giải thoát, với tâm vô hạn lượng. Mười pháp ấy là gì? Sắc (form / hình thể vật chất, một trong năm uẩn)... thọ (feeling / cảm giác dễ chịu, khó chịu hay trung tính, một trong năm uẩn)... nhận thức (perceptions / tưởng, nhận biết-phân biệt và gắn nhãn, một trong năm uẩn)... hành (choices / ý chí, sự tạo tác của tâm, các hoạt động có chủ ý của thân, khẩu, ý, một trong năm uẩn)... thức (consciousness / sự biết của tâm đối với đối tượng, một trong năm uẩn)... tái sanh (rebirth / sự sinh lại trong vòng luân hồi)... già (old age / sự suy yếu của thân thể do tuổi tác)... chết (death / sự chấm dứt của mạng sống)... khổ (suffering / sự đau đớn, bất toại nguyện, một sự thật cao quý)... phiền não (defilements / những trạng thái tâm tiêu cực làm ô nhiễm tâm như tham, sân, si)... Giả như có hoa sen xanh, sen hồng hay sen trắng. Dù nó mọc lên và lớn lên trong nước, nó vẫn vươn lên khỏi mặt nước và đứng đó không dính nước. Cũng vậy, Như Lai đã thoát khỏi mười pháp ấy, do đó Ngài sống ly tham, giải thoát, với tâm vô hạn lượng."
AN 10.82 Với Ānanda Ānandasutta (Kinh Ānanda)
Khi ấy, Tôn giả Ānanda đến gặp Đức Phật, đảnh lễ và ngồi xuống một bên. Đức Phật dạy:
"Này Ānanda, một vị tỳ kheo không có Niềm tin thì hoàn toàn không thể đạt được sự tăng trưởng, tiến bộ hay trưởng thành trong giáo pháp và giới luật (teaching and training / lời dạy của Đức Phật và các quy tắc rèn luyện) này.
Một vị tỳ kheo không có giới đức (ethical conduct / hành vi đạo đức) thì hoàn toàn không thể...
ít học thì hoàn toàn không thể...
khó khuyên dạy thì hoàn toàn không thể...
có bạn xấu thì hoàn toàn không thể...
lười biếng thì hoàn toàn không thể...
mất Tỉnh thức thì hoàn toàn không thể...
thiếu sự biết đủ thì hoàn toàn không thể...
có ước muốn xấu xa thì hoàn toàn không thể...
có tà kiến (wrong view / cái thấy sai lầm, không đúng chân lý) thì hoàn toàn không thể đạt được sự tăng trưởng, tiến bộ hay trưởng thành trong giáo pháp và giới luật này.
Một vị tỳ kheo có mười phẩm chất này thì hoàn toàn không thể đạt được sự tăng trưởng, tiến bộ hay trưởng thành trong giáo pháp và giới luật này.
Một vị tỳ kheo có Niềm tin thì hoàn toàn có thể đạt được sự tăng trưởng, tiến bộ hay trưởng thành trong giáo pháp và giới luật này.
Một vị tỳ kheo có giới đức thì hoàn toàn có thể...
học nhiều và ghi nhớ giáo pháp thì hoàn toàn có thể...
dễ khuyên dạy thì hoàn toàn có thể...
có bạn tốt thì hoàn toàn có thể...
Siêng năng thì hoàn toàn có thể...
có Tỉnh thức thì hoàn toàn có thể...
biết đủ thì hoàn toàn có thể...
ít mong muốn thì hoàn toàn có thể...
có chánh kiến (right view / cái thấy đúng đắn, phù hợp chân lý) thì hoàn toàn có thể đạt được sự tăng trưởng, tiến bộ hay trưởng thành trong giáo pháp và giới luật này.
Một vị tỳ kheo có mười phẩm chất này thì hoàn toàn có thể đạt được sự tăng trưởng, tiến bộ hay trưởng thành trong giáo pháp và giới luật này."
AN 10.83 Với Puṇṇiya Puṇṇiyasutta (Kinh Puṇṇiya)
Khi ấy, Tôn giả Puṇṇiya đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và thưa:
"Bạch Thế Tôn, do nhân gì, duyên gì mà đôi khi Như Lai cảm thấy có cảm hứng thuyết pháp, và những lúc khác thì không?"
"Này Puṇṇiya, khi một vị tỳ kheo có Niềm tin nhưng không đến gần, Như Lai không cảm thấy có cảm hứng thuyết pháp. Nhưng khi một vị tỳ kheo có Niềm tin và đến gần, Như Lai cảm thấy có cảm hứng thuyết pháp.
Khi một vị tỳ kheo có Niềm tin và đến gần, nhưng không đảnh lễ... họ đảnh lễ, nhưng không đặt câu hỏi... họ đặt câu hỏi, nhưng không chủ động lắng nghe giáo pháp... họ chủ động lắng nghe giáo pháp, nhưng không ghi nhớ giáo pháp đã nghe... họ ghi nhớ giáo pháp đã nghe, nhưng không suy ngẫm ý nghĩa của giáo pháp đã ghi nhớ... họ suy ngẫm ý nghĩa của giáo pháp đã ghi nhớ, nhưng, vì không hiểu ý nghĩa và giáo pháp, họ không thực hành tương ứng... họ thực hành tương ứng, nhưng họ không phải là người nói hay và phát âm không tốt. Giọng nói của họ không trau chuốt, rõ ràng, mạch lạc và không diễn tả được ý nghĩa... Họ là người nói hay, phát âm tốt, nhưng họ không khuyến giáo, khích lệ, làm phấn chấn và truyền cảm hứng cho các bạn đồng tu. Như Lai không cảm thấy có cảm hứng thuyết pháp.
Nhưng khi một vị tỳ kheo có Niềm tin, đến gần, đảnh lễ, đặt câu hỏi, chủ động lắng nghe giáo pháp, ghi nhớ giáo pháp, suy ngẫm ý nghĩa, thực hành tương ứng, có giọng nói tốt, và khích lệ các bạn đồng tu, Như Lai cảm thấy có cảm hứng thuyết pháp. Khi một người có mười phẩm chất này, Như Lai cảm thấy hoàn toàn có cảm hứng thuyết pháp."
AN 10.84 Tuyên Bố Byākaraṇasutta (Kinh Tuyên Bố)
Tại đó, Tôn giả Mahāmoggallāna (Đại Mục Kiền Liên) nói với các vị tỳ kheo: "Thưa các Hiền giả, các tỳ kheo!"
"Thưa Hiền giả," họ đáp. Tôn giả Mahāmoggallāna nói điều này:
"Hãy xét một vị tỳ kheo tuyên bố chứng ngộ: 'Tôi hiểu rằng: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa."' Vị ấy bị Như Lai, hoặc một trong các đệ tử của Ngài là người có các tầng thiền định (absorptions / các trạng thái tập trung cao độ của tâm), thiện xảo trong các chứng đắc (attainments / những thành tựu tâm linh), trong tâm của người khác, và trong cách thức của tâm người khác, truy vấn, gạn hỏi và thẩm tra. Bị thẩm tra theo cách này, vị ấy bị mắc kẹt hoặc lạc lối. Vị ấy rơi vào suy vong và tai họa.
Như Lai hoặc một trong các đệ tử của Ngài thấu hiểu tâm của vị ấy và điều tra: 'Tại sao vị tôn giả này lại tuyên bố chứng ngộ, nói rằng:
"Tôi hiểu rằng: 'Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.'?"'
Họ hiểu rằng:
'Vị tôn giả này dễ cáu kỉnh, và thường sống với tâm đầy Tức giận. Nhưng tâm đầy Tức giận có nghĩa là sự suy thoái trong giáo pháp và giới luật do Như Lai công bố.
Vị tôn giả này hay gây gổ...
dễ khinh miệt...
hay coi thường...
ganh tị...
keo kiệt...
gian xảo...
lừa dối...
Vị tôn giả này có ước muốn xấu xa, và thường sống với tâm đầy ham muốn. Nhưng tâm đầy ham muốn có nghĩa là sự suy thoái trong giáo pháp và giới luật do Như Lai công bố.
Khi vẫn còn nhiều việc phải làm, vị tôn giả này đã dừng lại giữa chừng sau khi đạt được một vài thành tựu nhỏ nhặt không đáng kể. Nhưng dừng lại giữa chừng có nghĩa là sự suy thoái trong giáo pháp và giới luật do Như Lai công bố.'
Một vị tỳ kheo hoàn toàn không thể đạt được sự tăng trưởng, tiến bộ, hay trưởng thành trong giáo pháp và giới luật này nếu không từ bỏ mười phẩm chất này. Một vị tỳ kheo hoàn toàn có thể đạt được sự tăng trưởng, tiến bộ, hay trưởng thành trong giáo pháp và giới luật này sau khi từ bỏ mười phẩm chất này."
AN 10.85 Kẻ Khoe Khoang Katthīsutta (Kinh Kẻ Khoe Khoang)
Một thời Tôn giả Mahācunda (Đại Ca Chiên Diên) trú tại xứ Cetī, ở Sahajāti. Tại đó, ngài nói với các vị tỳ kheo: "Thưa các Hiền giả, các tỳ kheo!"
"Thưa Hiền giả," họ đáp. Tôn giả Mahācunda nói điều này:
"Hãy xét một vị tỳ kheo khoe khoang và tự phụ về thành tựu của mình: 'Tôi nhập và xuất sơ thiền, nhị thiền, tam thiền, và tứ thiền. Và tôi nhập và xuất không vô biên xứ, thức vô biên xứ, vô sở hữu xứ, và phi tưởng phi phi tưởng xứ. Và tôi nhập và xuất diệt thọ tưởng định (cessation of perception and feeling / trạng thái thiền định nơi nhận thức và cảm giác tạm thời chấm dứt).'
Vị ấy bị Như Lai, hoặc một trong các đệ tử của Ngài là người có các tầng thiền định, thiện xảo trong các chứng đắc, trong tâm của người khác, và trong cách thức của tâm người khác, truy vấn, gạn hỏi và thẩm tra. Bị thẩm tra theo cách này, vị ấy bị mắc kẹt hoặc lạc lối. Vị ấy rơi vào suy vong và tai họa.
Như Lai hoặc một trong các đệ tử của Ngài thấu hiểu tâm của vị ấy và điều tra: 'Tại sao vị tôn giả này lại khoe khoang và tự phụ về thành tựu của mình, nói rằng: "Tôi nhập và xuất sơ thiền... và diệt thọ tưởng định."'
Họ hiểu rằng, 'Từ lâu, hành vi của vị tôn giả này đã bị phá vỡ, ô uế, lốm đốm và hoen ố. Hành vi và cách cư xử của vị ấy không nhất quán. Vị tôn giả này không có giới đức, và việc không có giới đức có nghĩa là sự suy thoái trong giáo pháp và giới luật do Như Lai công bố.
Vị tôn giả này không có Niềm tin, và việc thiếu Niềm tin có nghĩa là sự suy thoái...
Vị tôn giả này ít học và không thực hành, và việc ít học có nghĩa là sự suy thoái...
Vị tôn giả này khó khuyên dạy, và việc khó khuyên dạy có nghĩa là sự suy thoái...
Vị tôn giả này có bạn xấu, và bạn xấu có nghĩa là sự suy thoái...
Vị tôn giả này lười biếng, và sự lười biếng có nghĩa là sự suy thoái...
Vị tôn giả này mất Tỉnh thức, và việc mất Tỉnh thức có nghĩa là sự suy thoái...
Vị tôn giả này gian dối, và sự gian dối có nghĩa là sự suy thoái...
Vị tôn giả này nặng nề, và việc nặng nề có nghĩa là sự suy thoái...
Vị tôn giả này thiếu Trí tuệ, và việc thiếu Trí tuệ có nghĩa là sự suy thoái trong giáo pháp và giới luật do Như Lai công bố.'
Giả sử một người bạn nói với người bạn khác: 'Này bạn thân mến, khi bạn cần tiền để trả một khoản nào đó, cứ hỏi tôi và tôi sẽ đưa cho.' Rồi khi đến hạn trả một khoản nào đó, người bạn đó nói với bạn mình: 'Tôi cần một ít tiền, bạn thân mến ạ. Cho tôi một ít đi.' Người kia sẽ nói: 'Vậy thì, bạn thân mến, đào ở đây.' Người này đào ở đó, nhưng không tìm thấy gì. Người này sẽ nói: 'Bạn đã nói dối tôi, bạn thân mến, bạn đã nói những lời sáo rỗng khi bảo tôi đào ở đây.' Người kia sẽ nói: 'Bạn thân mến, tôi không nói dối hay nói những lời sáo rỗng. Vậy thì, đào ở đây.' Người này cũng đào ở đó, nhưng không tìm thấy gì. Người này sẽ nói: 'Bạn đã nói dối tôi, bạn thân mến, bạn đã nói những lời sáo rỗng khi bảo đào ở đây.' Người kia sẽ nói: 'Bạn thân mến, tôi không nói dối hay nói những lời sáo rỗng. Vậy thì, đào ở đây.' Người này cũng đào ở đó, nhưng không tìm thấy gì. Người này sẽ nói: 'Bạn đã nói dối tôi, bạn thân mến, bạn đã nói những lời sáo rỗng khi bảo đào ở đây.' Người kia sẽ nói: 'Bạn thân mến, tôi không nói dối hay nói những lời sáo rỗng. Nhưng tôi đã bị điên, tôi đã mất trí.'
Cũng vậy, hãy xét một vị tỳ kheo khoe khoang và tự phụ về thành tựu của mình: 'Tôi nhập và xuất sơ thiền... và diệt thọ tưởng định.'
Vị ấy bị Như Lai, hoặc một trong các đệ tử của Ngài... Bị thẩm tra theo cách này, vị ấy bị mắc kẹt hoặc lạc lối. Vị ấy rơi vào suy vong và tai họa.
Như Lai hoặc một trong các đệ tử của Ngài thấu hiểu tâm của vị ấy và điều tra: 'Tại sao vị tôn giả này lại khoe khoang và tự phụ về thành tựu của mình, nói rằng: "Tôi nhập và xuất sơ thiền... và diệt thọ tưởng định."'
Họ hiểu rằng, 'Từ lâu, hành vi của vị tôn giả này đã bị phá vỡ, ô uế, lốm đốm và hoen ố. Hành vi và cách cư xử của vị ấy không nhất quán. Vị tôn giả này không có giới đức, và việc không có giới đức có nghĩa là sự suy thoái trong giáo pháp và giới luật do Như Lai công bố.
Vị tôn giả này không có Niềm tin...
ít học và không thực hành...
khó khuyên dạy...
có bạn xấu...
lười biếng...
mất Tỉnh thức...
gian dối...
nặng nề...
Vị tôn giả này thiếu Trí tuệ, và việc thiếu Trí tuệ có nghĩa là sự suy thoái trong giáo pháp và giới luật do Như Lai công bố.'
Một vị tỳ kheo hoàn toàn không thể đạt được sự tăng trưởng, tiến bộ, hay trưởng thành trong giáo pháp và giới luật này nếu không từ bỏ mười phẩm chất này. Một vị tỳ kheo hoàn toàn có thể đạt được sự tăng trưởng, tiến bộ, hay trưởng thành trong giáo pháp và giới luật này sau khi từ bỏ mười phẩm chất này."
AN 10.86 Tự Đánh Giá Quá Cao Adhimānasutta (Kinh Tự Mãn)
Một thời Tôn giả Mahākassapa (Đại Ca Diếp) trú gần thành Rājagaha (Vương Xá), tại Veluvana (Trúc Lâm), nơi các con sóc được cho ăn. Tại đó, ngài nói với các vị tỳ kheo: "Thưa các Hiền giả, các tỳ kheo!"
"Thưa Hiền giả," họ đáp. Tôn giả Mahākassapa nói điều này:
"Hãy xét một vị tỳ kheo tuyên bố chứng ngộ: 'Tôi hiểu rằng: "Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa."' Vị ấy bị Như Lai, hoặc một trong các đệ tử của Ngài là người có các tầng thiền định, thiện xảo trong các chứng đắc, trong tâm của người khác, và trong cách thức của tâm người khác, truy vấn, gạn hỏi và thẩm tra. Bị thẩm tra theo cách này, vị ấy bị mắc kẹt hoặc lạc lối. Vị ấy rơi vào suy vong và tai họa.
Như Lai hoặc một trong các đệ tử của Ngài thấu hiểu tâm của vị ấy và điều tra: 'Tại sao vị tôn giả này lại tuyên bố chứng ngộ, nói rằng: "Tôi hiểu rằng: 'Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.'?"'
Họ hiểu rằng, 'Vị tôn giả này adhimāna (overestimation / tự đánh giá quá cao bản thân, ngã mạn về những gì mình chưa đạt được) và cho đó là sự thật. Vị ấy nhận thức rằng mình đã đạt được những gì chưa đạt, làm được những gì chưa làm, và thành tựu những gì chưa thành tựu. Và vị ấy tuyên bố chứng ngộ do tự đánh giá quá cao:
"Tôi hiểu rằng: 'Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.'"'
Như Lai hoặc một trong các đệ tử của Ngài thấu hiểu tâm của vị ấy và điều tra: 'Tại sao vị tôn giả này lại tự đánh giá quá cao bản thân và cho đó là sự thật? Tại sao vị ấy nhận thức rằng mình đã đạt được những gì chưa đạt, làm được những gì chưa làm, và thành tựu những gì chưa thành tựu? Và tại sao vị ấy lại tuyên bố chứng ngộ do tự đánh giá quá cao:
"Tôi hiểu rằng: 'Sanh đã tận, phạm hạnh đã thành, việc cần làm đã làm, không còn trở lui trạng thái này nữa.'"'
Họ hiểu rằng, 'Vị tôn giả này rất uyên bác, ghi nhớ và gìn giữ những gì đã học. Những giáo lý này thiện ở đoạn đầu, thiện ở đoạn giữa, và thiện ở đoạn cuối, có ý nghĩa và văn cú rõ ràng, mô tả một đời sống phạm hạnh hoàn toàn đầy đủ và thanh tịnh. Vị ấy rất uyên bác trong những giáo lý như vậy, ghi nhớ chúng, tụng đọc chúng, quán xét chúng trong tâm, và hiểu chúng trên lý thuyết. Do đó, vị tôn giả này tự đánh giá quá cao bản thân và cho đó là sự thật. ...'
Họ hiểu rằng, 'Vị tôn giả này tham lam, và thường sống với tâm đầy tham lam. Tâm đầy tham lam có nghĩa là sự suy thoái trong giáo pháp và giới luật do Như Lai công bố.
Vị tôn giả này có Tức giận...
Tâm trí đờ đẫn và buồn ngủ...
Bồn chồn lo lắng...
nghi ngờ...
Vị tôn giả này thích thú công việc. Vị ấy yêu thích nó và muốn tận hưởng nó...
Vị tôn giả này thích thú nói chuyện...
ngủ...
hội chúng...
Khi vẫn còn nhiều việc phải làm, vị tôn giả này đã dừng lại giữa chừng sau khi đạt được một vài thành tựu nhỏ nhặt không đáng kể. Dừng lại giữa chừng có nghĩa là sự suy thoái trong giáo pháp và giới luật do Như Lai công bố.'
Một vị tỳ kheo hoàn toàn không thể đạt được sự tăng trưởng, tiến bộ, hay trưởng thành trong giáo pháp và giới luật này nếu không từ bỏ mười phẩm chất này. Một vị tỳ kheo hoàn toàn có thể đạt được sự tăng trưởng, tiến bộ, hay trưởng thành trong giáo pháp và giới luật này sau khi từ bỏ mười phẩm chất này."
AN 10.87 Các Vấn Đề Giới Luật Nappiyasutta (Kinh Không Đáng Yêu Mến)
Khi ấy, Đức Phật nói với các vị tỳ kheo về tỳ kheo Kalandaka:
"Này các tỳ kheo!"
"Bạch Thế Tôn," họ đáp. Đức Phật nói điều này:
"Thứ nhất, một vị tỳ kheo nêu lên các vấn đề về giới luật và không tán dương việc giải quyết các vấn đề về giới luật. Phẩm chất này không đưa đến sự quý mến, tôn trọng, kính trọng, hòa hợp và đoàn kết.
Hơn nữa, một vị tỳ kheo không muốn rèn luyện, và không tán dương việc chấp nhận sự rèn luyện. ...
Hơn nữa, một vị tỳ kheo có ước muốn xấu xa, và không tán dương việc từ bỏ các ước muốn. ...
Hơn nữa, một vị tỳ kheo cáu kỉnh, và không tán dương việc từ bỏ Tức giận. ...
Hơn nữa, một vị tỳ kheo chê bai người khác, và không tán dương việc từ bỏ sự chê bai. ...
Hơn nữa, một vị tỳ kheo gian xảo, và không tán dương việc từ bỏ sự gian xảo. ...
Hơn nữa, một vị tỳ kheo lừa dối, và không tán dương việc từ bỏ sự lừa dối. ...
Hơn nữa, một vị tỳ kheo không chú tâm đến giáo pháp, và không tán dương việc chú tâm đến giáo pháp. ...
Hơn nữa, một vị tỳ kheo không ở nơi ẩn dật (retreat / sự lui về nơi yên tĩnh để tu tập), và không tán dương việc ở nơi ẩn dật. ...
Hơn nữa, một vị tỳ kheo không hiếu khách với các bạn đồng tu, và không tán dương sự hiếu khách. Phẩm chất này không đưa đến sự quý mến, tôn trọng, kính trọng, hòa hợp và đoàn kết.
Dù một vị tỳ kheo như vậy có thể mong muốn: 'Giá như các bạn đồng tu của tôi sẽ tôn kính, quý trọng, đề cao và sùng mộ tôi!' Nhưng họ không tôn kính, quý trọng, đề cao và sùng mộ vị ấy. Tại sao vậy? Bởi vì các bạn đồng tu có hiểu biết của họ thấy rằng vị ấy chưa từ bỏ những phẩm chất xấu xa, bất thiện đó.
Giả sử một con ngựa con hoang dã mong muốn: 'Giá như con người đặt ta vào chỗ của ngựa thuần chủng, cho ta ăn thức ăn của ngựa thuần chủng, và chăm sóc ta như ngựa thuần chủng.' Nhưng con người sẽ không đặt nó vào chỗ của ngựa thuần chủng, cho nó ăn thức ăn của ngựa thuần chủng, hay chăm sóc nó như ngựa thuần chủng. Tại sao vậy? Bởi vì con người có hiểu biết thấy rằng nó chưa từ bỏ những trò ma mãnh, lừa gạt, mưu mẹo và giả vờ của nó. Cũng vậy, dù một vị tỳ kheo như vậy có thể mong muốn: 'Giá như các bạn đồng tu của tôi sẽ tôn kính, quý trọng, đề cao và sùng mộ tôi!' Nhưng họ không tôn kính, quý trọng, đề cao và sùng mộ vị ấy. Tại sao vậy? Bởi vì các bạn đồng tu có hiểu biết của họ thấy rằng vị ấy chưa từ bỏ những phẩm chất xấu xa, bất thiện đó.
Tiếp theo, một vị tỳ kheo không nêu lên các vấn đề về giới luật và tán dương việc giải quyết các vấn đề về giới luật. Phẩm chất này đưa đến sự quý mến, tôn trọng, kính trọng, hòa hợp và đoàn kết.
Hơn nữa, một vị tỳ kheo muốn rèn luyện, và tán dương việc chấp nhận sự rèn luyện. ...
Hơn nữa, một vị tỳ kheo có ít mong muốn, và tán dương việc từ bỏ các mong muốn. ...
Hơn nữa, một vị tỳ kheo không cáu kỉnh, và tán dương việc từ bỏ Tức giận. ...
Hơn nữa, một vị tỳ kheo không chê bai người khác, và tán dương việc từ bỏ sự chê bai. ...
Hơn nữa, một vị tỳ kheo không gian xảo, và tán dương việc từ bỏ sự gian xảo. ...
Hơn nữa, một vị tỳ kheo không lừa dối, và tán dương việc từ bỏ sự lừa dối. ...
Hơn nữa, một vị tỳ kheo chú tâm đến giáo pháp, và tán dương việc chú tâm đến giáo pháp. ...
Hơn nữa, một vị tỳ kheo ở nơi ẩn dật, và tán dương việc ở nơi ẩn dật. ...
Hơn nữa, một vị tỳ kheo hiếu khách với các bạn đồng tu, và tán dương sự hiếu khách. Phẩm chất này đưa đến sự quý mến, tôn trọng, kính trọng, hòa hợp và đoàn kết.
Dù một vị tỳ kheo như vậy có thể không bao giờ mong muốn: 'Giá như các bạn đồng tu của tôi sẽ tôn kính, quý trọng, đề cao và sùng mộ tôi!' Nhưng họ vẫn tôn kính, quý trọng, đề cao và sùng mộ vị ấy. Tại sao vậy? Bởi vì các bạn đồng tu có hiểu biết của họ thấy rằng vị ấy đã từ bỏ những phẩm chất xấu xa, bất thiện đó.
Giả sử một con ngựa thuần chủng tốt không bao giờ mong muốn: 'Giá như con người đặt ta vào chỗ của ngựa thuần chủng, cho ta ăn thức ăn của ngựa thuần chủng, và chăm sóc ta như ngựa thuần chủng.' Nhưng con người vẫn sẽ đặt nó vào chỗ của ngựa thuần chủng, cho nó ăn thức ăn của ngựa thuần chủng, và chăm sóc nó như ngựa thuần chủng. Tại sao vậy? Bởi vì con người có hiểu biết thấy rằng nó đã từ bỏ những trò ma mãnh, lừa gạt, mưu mẹo và giả vờ của nó.
Cũng vậy, dù một vị tỳ kheo như vậy có thể không bao giờ mong muốn: 'Giá như các bạn đồng tu của tôi sẽ tôn kính, quý trọng, đề cao và sùng mộ tôi!' Nhưng họ vẫn tôn kính, quý trọng, đề cao và sùng mộ vị ấy. Tại sao vậy? Bởi vì các bạn đồng tu có hiểu biết của họ thấy rằng vị ấy đã từ bỏ những phẩm chất xấu xa, bất thiện đó."
AN 10.88 Kẻ Mắng Nhiếc Akkosakasutta (Kinh Kẻ Mắng Nhiếc)
"Này các tỳ kheo, bất kỳ tỳ kheo nào mắng nhiếc và xúc phạm các bạn đồng tu của mình, chỉ trích các bậc thánh (noble ones / những người đã đạt được các cấp độ giác ngộ), chắc chắn sẽ rơi vào một trong mười tai họa này. Mười tai họa đó là gì? Họ không đạt được những gì chưa đạt được. Những gì họ đã đạt được sẽ mất đi. Họ không trau dồi những phẩm chất tốt đẹp của mình. Họ đánh giá quá cao những phẩm chất tốt đẹp của mình, hoặc sống đời phạm hạnh không hài lòng, hoặc phạm một tội lỗi xấu xa, hoặc mắc một bệnh nặng, hoặc trở nên điên loạn và mất trí. Họ cảm thấy hoang mang khi chết. Và khi thân xác tan rã, sau khi chết, họ tái sanh vào đọa xứ, ác thú, địa ngục. Bất kỳ tỳ kheo nào mắng nhiếc và xúc phạm các bạn đồng tu của mình, chỉ trích các bậc thánh, chắc chắn sẽ rơi vào một trong mười tai họa này."
AN 10.89 Với Kokālika Kokālikasutta (Kinh Kokālika)
Khi ấy, tỳ kheo Kokālika đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, ngồi xuống một bên và thưa: "Bạch Thế Tôn, Tôn giả Sāriputta (Xá Lợi Phất) và Moggallāna (Mục Kiền Liên) có ước muốn xấu xa. Các ngài đã bị ước muốn xấu xa chi phối."
"Đừng nói vậy, Kokālika! Đừng nói vậy, Kokālika! Hãy có Niềm tin vào Sāriputta và Moggallāna, họ là những vị tỳ kheo tốt."
Lần thứ hai, Kokālika thưa với Đức Phật: "Dù con có Niềm tin và tin tưởng vào Đức Phật, nhưng Sāriputta và Moggallāna có ước muốn xấu xa. Các ngài đã bị ước muốn xấu xa chi phối."
"Đừng nói vậy, Kokālika! Đừng nói vậy, Kokālika! Hãy có Niềm tin vào Sāriputta và Moggallāna, họ là những vị tỳ kheo tốt."
Lần thứ ba, Kokālika thưa với Đức Phật: "Dù con có Niềm tin và tin tưởng vào Đức Phật, nhưng Sāriputta và Moggallāna có ước muốn xấu xa. Các ngài đã bị ước muốn xấu xa chi phối."
"Đừng nói vậy, Kokālika! Đừng nói vậy, Kokālika! Hãy có Niềm tin vào Sāriputta và Moggallāna, họ là những vị tỳ kheo tốt."
Rồi Kokālika từ chỗ ngồi đứng dậy, đảnh lễ và đi nhiễu quanh Đức Phật theo chiều bên phải một cách kính trọng, trước khi rời đi. Không lâu sau khi ông ta rời đi, thân thể ông ta nổi lên những mụn nhọt bằng hạt cải. Những mụn nhọt lớn dần bằng hạt đậu xanh, rồi hạt đậu gà, rồi hạt táo ta, rồi quả táo ta, rồi quả kha tử, rồi quả táo rừng chưa chín, rồi quả táo rừng chín. Cuối cùng chúng vỡ ra, mủ và máu chảy ròng ròng. Ông ta chỉ nằm trên lá chuối như một con cá bị trúng độc.
Khi ấy, vị trời Tudu tự tại đến gặp Kokālika, và đứng giữa hư không, nói với ông ta: "Này Kokālika, hãy có Niềm tin vào Sāriputta và Moggallāna, họ là những vị tỳ kheo tốt."
"Ngài là ai, thưa Hiền giả?"
"Ta là vị trời Tudu tự tại."
"Chẳng phải Đức Phật đã tuyên bố ông là bậc bất lai (non-returner / người không còn tái sanh vào cõi dục) sao? Vậy chính xác thì ông đang làm gì ở đây? Hãy xem ông đã lạc lối đến mức nào!"
Rồi Tudu nói với Kokālika bằng kệ:
"Người ta sinh ra
có cái búa trong miệng.
Kẻ ngu tự cắt mình bằng nó
khi nói lời ác độc.Khi ông khen người đáng chê,
hay chê người đáng khen,
ông tự rước lấy vận rủi bằng miệng mình:
ông sẽ không bao giờ tìm thấy hạnh phúc theo cách đó.Vận rủi khi chơi xúc xắc là chuyện nhỏ,
nếu tất cả những gì ông mất là tiền bạc
và tất cả những gì ông sở hữu, ngay cả chính mình.
Điều thực sự là vận rủi khủng khiếp
là căm ghét các bậc thánh.Trong hơn hàng hà sa số năm,
và thêm hàng hà sa số năm nữa,
kẻ phỉ báng các bậc thánh sẽ xuống địa ngục,
vì đã hướng những lời nói và ý nghĩ xấu xa đến các ngài."
Rồi tỳ kheo Kokālika chết vì bệnh đó. Ông ta đã tái sanh vào địa ngục Sen Hồng (Paduma niraya) vì lòng oán hận đối với Sāriputta và Moggallāna.
Khi ấy, vào cuối đêm, vị Phạm Thiên Sahampati xinh đẹp, chiếu sáng toàn bộ Jetavana (Kỳ Viên Tịnh Xá), đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, đứng sang một bên, và thưa: "Bạch Thế Tôn, tỳ kheo Kokālika đã qua đời. Ông ta đã tái sanh vào địa ngục Sen Hồng vì lòng oán hận đối với Sāriputta và Moggallāna."
Đó là những gì vị Phạm Thiên Sahampati đã nói. Rồi vị ấy đảnh lễ và đi nhiễu quanh Đức Phật theo chiều bên phải một cách kính trọng, trước khi biến mất ngay tại đó.
Rồi, khi đêm đã qua, Đức Phật kể lại cho các vị tỳ kheo tất cả những gì đã xảy ra.
Khi ngài nói điều này, một trong các vị tỳ kheo hỏi Đức Phật: "Bạch Thế Tôn, tuổi thọ trong địa ngục Sen Hồng là bao lâu?"
"Rất dài, này tỳ kheo. Không dễ để tính được bao nhiêu năm, bao nhiêu trăm hay ngàn hay trăm ngàn năm nó kéo dài."
"Nhưng bạch Thế Tôn, có thể đưa ra một ví dụ được không?"
"Có thể," Đức Phật nói.
"Giả sử có một xe bò của xứ Kosala chở hai mươi hộc hạt mè. Và cứ sau mỗi trăm năm, có người lấy đi một hạt từ đó. Bằng cách này, xe bò của xứ Kosala chở hai mươi hộc hạt mè sẽ hết nhanh hơn một đời sống trong địa ngục Abbuda (A Phù Đà). Này, hai mươi đời sống trong địa ngục Abbuda bằng một đời sống trong địa ngục Nirabbuda (Ni La Phù Đà). Hai mươi đời sống trong địa ngục Nirabbuda bằng một đời sống trong địa ngục Ababa (A Ba Ba). Hai mươi đời sống trong địa ngục Ababa bằng một đời sống trong địa ngục Aṭaṭa (A Tra Tra). Hai mươi đời sống trong địa ngục Aṭaṭa bằng một đời sống trong địa ngục Ahaha (A Ha Ha). Hai mươi đời sống trong địa ngục Ahaha bằng một đời sống trong địa ngục Sen Vàng (Kumuda). Hai mươi đời sống trong địa ngục Sen Vàng bằng một đời sống trong địa ngục Hương Thơm (Sogandhika). Hai mươi đời sống trong địa ngục Hương Thơm bằng một đời sống trong địa ngục Sen Xanh (Uppalaka). Hai mươi đời sống trong địa ngục Sen Xanh bằng một đời sống trong địa ngục Sen Trắng (Puṇḍarīka). Hai mươi đời sống trong địa ngục Sen Trắng bằng một đời sống trong địa ngục Sen Hồng (Paduma). Tỳ kheo Kokālika đã tái sanh vào địa ngục Sen Hồng vì lòng oán hận đối với Sāriputta và Moggallāna."
Đó là những gì Đức Phật đã nói. Rồi Đấng Thiện Thệ, Bậc Đạo Sư, nói tiếp:
"Người ta sinh ra
có cái búa trong miệng.
Kẻ ngu tự cắt mình bằng nó
khi nói lời ác độc.Khi ông khen người đáng chê,
hay chê người đáng khen,
ông tự rước lấy vận rủi bằng miệng mình:
ông sẽ không bao giờ tìm thấy hạnh phúc theo cách đó.Vận rủi khi chơi xúc xắc là chuyện nhỏ,
nếu tất cả những gì ông mất là tiền bạc
và tất cả những gì ông sở hữu, ngay cả chính mình.
Điều thực sự là vận rủi khủng khiếp
là căm ghét các bậc thánh.Trong hơn hàng hà sa số năm,
và thêm hàng hà sa số năm nữa,
kẻ phỉ báng các bậc thánh sẽ xuống địa ngục,
vì đã hướng những lời nói và ý nghĩ xấu xa đến các ngài."
AN 10.90 Các Năng Lực Của Người Đã Đoạn Tận Lậu Hoặc Khīṇāsavabalasutta (Kinh Các Lực Của Bậc Lậu Tận)
Khi ấy, Tôn giả Sāriputta đến gặp Đức Phật, đảnh lễ, và ngồi xuống một bên. Đức Phật nói với ngài:
"Này Sāriputta, một vị tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc (cankers, taints, outflows / những ô nhiễm sâu kín làm cho chúng sanh trôi lăn trong vòng sanh tử, gồm dục lậu, hữu lậu, vô minh lậu) có bao nhiêu năng lực để có thể tuyên bố: 'Các lậu hoặc của tôi đã đoạn tận.'"
"Bạch Thế Tôn, một vị tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc có mười năng lực để có thể tuyên bố: 'Các lậu hoặc của tôi đã đoạn tận.' Mười năng lực đó là gì? Thứ nhất, một vị tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc đã thấy rõ bằng chánh Trí tuệ tất cả các pháp hữu vi (conditioned things / những sự vật, hiện tượng do duyên sinh, có điều kiện) là thực sự vô thường (impermanent / không bền vững, luôn thay đổi). Đây là một năng lực mà một vị tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc dựa vào để tuyên bố: 'Các lậu hoặc của tôi đã đoạn tận.'
Hơn nữa, một vị tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc đã thấy rõ bằng chánh Trí tuệ rằng các dục lạc (sensual pleasures / sự hưởng thụ qua các giác quan) thực sự giống như một hố than hồng. Đây là một năng lực mà một vị tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc dựa vào để tuyên bố: 'Các lậu hoặc của tôi đã đoạn tận.'
Hơn nữa, tâm của một vị tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc hướng về, nghiêng về, xuôi về sự viễn ly (seclusion / sự xa lánh, thoát ly). Vị ấy ẩn dật, yêu thích sự xuất ly (renunciation / sự từ bỏ đời sống thế tục, ham muốn), và đã hoàn toàn loại trừ các ảnh hưởng phiền não. Đây là một năng lực mà một vị tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc dựa vào để tuyên bố: 'Các lậu hoặc của tôi đã đoạn tận.'
Hơn nữa, một vị tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc đã phát triển tốt đẹp bốn loại thiền quán niệm (Tứ Niệm Xứ / four foundations of mindfulness / bốn lĩnh vực quán niệm: thân, thọ, tâm, pháp). Đây là một năng lực mà một vị tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc dựa vào để tuyên bố: 'Các lậu hoặc của tôi đã đoạn tận.'
Hơn nữa, một vị tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc đã phát triển tốt đẹp bốn chánh cần (Tứ Chánh Cần / four right efforts / bốn sự cố gắng chân chánh: ngăn ngừa ác pháp chưa sanh, đoạn trừ ác pháp đã sanh, làm sanh khởi thiện pháp chưa sanh, duy trì thiện pháp đã sanh). ... bốn như ý túc (Tứ Như Ý Túc / four bases of psychic power / bốn nền tảng của năng lực siêu nhiên: dục, tấn, tâm, quán) ... năm căn (Ngũ Căn / five faculties / năm năng lực tinh thần: Niềm tin, Siêng năng, Tỉnh thức, định tĩnh, Trí tuệ) ... năm lực (Ngũ Lực / five powers / năm sức mạnh tinh thần, là sự phát triển của Ngũ Căn) ... bảy giác chi (Thất Giác Chi / seven factors of enlightenment / bảy yếu tố dẫn đến giác ngộ: Tỉnh thức, trạch pháp, Siêng năng, Niềm vui, khinh an, định tĩnh, xả) ... bát chánh đạo (Bát Chánh Đạo / noble eightfold path / con đường tám nhánh dẫn đến giải thoát: chánh kiến, chánh tư duy, chánh ngữ, chánh nghiệp, chánh mạng, chánh tinh tấn, chánh niệm, chánh định). Đây là một năng lực mà một vị tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc dựa vào để tuyên bố: 'Các lậu hoặc của tôi đã đoạn tận.'
Một vị tỳ kheo đã đoạn tận các lậu hoặc có mười năng lực này để có thể tuyên bố: 'Các lậu hoặc của tôi đã đoạn tận.'"