Skip to content

38. Đại Kinh về Đoạn Trừ Ái

(Mahātamhāsankhaya Sutta)

(BỐI CẢNH)

1. Như vầy tôi nghe. Một thời Thế Tôn (Blessed One/ Bhagavā/Đức Phật) đang cư trú tại Sāvatthī, trong Rừng Jeta, Vườn của ông Anāthapindika.

2. Lúc bấy giờ, một quan điểm sai lầm (pernicious view/ pāpakadiṭṭhi/ tà kiến) đã khởi lên từ vị tỳ kheo tên Satti, con của một người đánh cá, như sau: "Theo như ta hiểu Giáo pháp mà Thế Tôn thuyết giảng, thì chính cái thức (consciousness/ viññāṇa/ sự nhận biết) này luân chuyển và rong ruổi qua vòng luân hồi (round of rebirths/ saṃsāra), chứ không phải cái nào khác." 402

3. Một số tỳ kheo, sau khi nghe về điều này, đã đến gặp tỳ kheo Satti và hỏi: "Này hiền giả Satti, có thật là quan điểm sai lầm như thế đã khởi lên trong ông không?"

"Chính xác là vậy, chư hiền. Theo như tôi hiểu Giáo pháp mà Thế Tôn thuyết giảng, thì chính cái thức này luân chuyển và rong ruổi qua vòng luân hồi, chứ không phải cái nào khác."

Bấy giờ, các tỳ kheo ấy, vì muốn tách ông ra khỏi quan điểm sai lầm đó, đã truy vấn, chất vấn và cật vấn ông như sau: "Này hiền giả Satti, đừng nói như vậy. Đừng xuyên tạc Thế Tôn; xuyên tạc Thế Tôn là không tốt. Thế Tôn sẽ không nói như vậy. Vì trong nhiều bài kinh, Thế Tôn đã dạy rằng thức là do duyên mà khởi lên (dependently arisen/ paṭiccasamuppanna/ duyên khởi), [257] nếu không có điều kiện (condition/ paccaya/ duyên) thì không có sự khởi sinh của thức."

Tuy nhiên, mặc dù bị các tỳ kheo truy vấn, chất vấn và cật vấn như vậy, tỳ kheo Satti, con của người đánh cá, vẫn khăng khăng giữ chặt (adhered/ upādāna/ chấp thủ) vào quan điểm sai lầm đó và tiếp tục khẳng định nó.

4. Vì các tỳ kheo không thể kéo ông ra khỏi quan điểm sai lầm đó, họ bèn đến gặp Thế Tôn, và sau khi đảnh lễ Ngài, họ ngồi xuống một bên và thuật lại tất cả những gì đã xảy ra, rồi thưa thêm: "Bạch Thế Tôn, vì chúng con không thể kéo tỳ kheo Satti, con của người đánh cá, ra khỏi quan điểm sai lầm này, nên chúng con trình sự việc này lên Thế Tôn."

5. Bấy giờ, Thế Tôn bảo một tỳ kheo nọ: "Này tỳ kheo, hãy đi [258] và nhân danh ta bảo tỳ kheo Satti, con của người đánh cá, rằng Bậc Đạo Sư cho gọi ông ấy." - "Thưa vâng, bạch Thế Tôn," vị ấy đáp, rồi đi đến chỗ tỳ kheo Satti và bảo: "Bậc Đạo Sư cho gọi hiền giả Satti."

"Vâng, thưa hiền giả," ông đáp, rồi đi đến chỗ Thế Tôn, sau khi đảnh lễ Ngài, ông ngồi xuống một bên. Thế Tôn bèn hỏi ông: "Này Satti, có thật là quan điểm sai lầm sau đây đã khởi lên trong ông: 'Theo như ta hiểu Giáo pháp mà Thế Tôn thuyết giảng, thì chính cái thức này luân chuyển và rong ruổi qua vòng luân hồi, chứ không phải cái nào khác'?"

"Đúng như vậy, bạch Thế Tôn. Theo như con hiểu Giáo pháp mà Thế Tôn thuyết giảng, thì chính cái thức này luân chuyển và rong ruổi qua vòng luân hồi, chứ không phải cái nào khác."

"Cái thức đó là gì, này Satti?"

"Bạch Thế Tôn, đó là cái biết nói, biết cảm thọ, và kinh nghiệm kết quả của các hành động thiện và ác ở chỗ này hay chỗ kia." 403

"Này kẻ lầm lạc (misguided man/ moghapurisa), ông đã từng biết ta thuyết giảng Giáo pháp như thế cho ai bao giờ? Này kẻ lầm lạc, chẳng phải trong nhiều bài kinh ta đã dạy rằng thức là do duyên mà khởi lên, nếu không có điều kiện thì không có sự khởi sinh của thức sao? Nhưng ông, này kẻ lầm lạc, đã xuyên tạc chúng ta bởi sự nắm bắt sai lệch của ông, tự làm hại mình và tạo ra nhiều điều bất thiện; vì điều này sẽ dẫn đến sự tổn hại và đau khổ lâu dài cho ông."

6. Rồi Thế Tôn bảo các tỳ kheo: "Này các tỳ kheo, các ông nghĩ sao? Tỳ kheo Satti, con của người đánh cá này, có nhen nhóm được chút tia sáng trí tuệ nào trong Pháp và Luật này không?"

"Làm sao có thể được, bạch Thế Tôn? Dạ không, bạch Thế Tôn."

Khi nghe nói vậy, tỳ kheo Satti, con của người đánh cá, ngồi im lặng, hoang mang, vai rũ xuống, đầu cúi gầm, ủ rũ và không nói được lời nào. Biết được điều này, Thế Tôn bảo ông: "Này kẻ lầm lạc, ông sẽ bị nhận diện bởi chính quan điểm sai lầm của mình. Ta sẽ hỏi các tỳ kheo về vấn đề này."

7. Rồi Thế Tôn hỏi các tỳ kheo: "Này các tỳ kheo, các ông có hiểu Giáo pháp do ta thuyết giảng giống như tỳ kheo Satti, [259] con của người đánh cá này, khi ông ta xuyên tạc chúng ta bởi sự nắm bắt sai lệch, tự làm hại mình và tạo ra nhiều điều bất thiện không?"

"Dạ không, bạch Thế Tôn. Vì trong nhiều bài kinh, Thế Tôn đã dạy rằng thức là do duyên mà khởi lên, nếu không có điều kiện thì không có sự khởi sinh của thức."

"Lành thay, này các tỳ kheo. Thật tốt khi các ông hiểu Giáo pháp do ta thuyết giảng như vậy. Vì trong nhiều bài kinh, ta đã dạy rằng thức là do duyên mà khởi lên, nếu không đủ điều kiện thì không có sự khởi sinh của thức. Nhưng tỳ kheo Satti, con của người đánh cá này, đã xuyên tạc chúng ta bởi sự nắm bắt sai lệch, tự làm hại mình và tạo ra nhiều điều bất thiện; vì điều này sẽ dẫn đến sự tổn hại và đau khổ lâu dài cho kẻ lầm lạc này.

(TÍNH DUYÊN KHỞI CỦA THỨC)

8. "Này các tỳ kheo, thức được hình thành theo điều kiện cụ thể mà nhờ đó nó khởi lên. Khi thức khởi lên dựa vào mắt và các hình sắc, nó được gọi là nhãn thức (eye-consciousness/ cakkhuviññāṇa/ sự nhận biết qua mắt); khi thức khởi lên dựa vào tai và âm thanh, nó được gọi là nhĩ thức; khi thức khởi lên dựa vào mũi và mùi hương, [260] nó được gọi là tỷ thức; khi thức khởi lên dựa vào lưỡi và vị, nó được gọi là thiệt thức; khi thức khởi lên dựa vào thân và vật xúc chạm, nó được gọi là thân thức; khi thức khởi lên dựa vào ý và các pháp (đối tượng của tâm), nó được gọi là ý thức. Cũng giống như lửa được hình thành theo nhiên liệu cụ thể mà nhờ đó nó cháy - khi lửa cháy dựa vào củi, nó được gọi là lửa củi; khi lửa cháy dựa vào cành cây vụn, nó được gọi là lửa cành cây; khi lửa cháy dựa vào cỏ, nó được gọi là lửa cỏ; khi lửa cháy dựa vào phân bò, nó được gọi là lửa phân bò; khi lửa cháy dựa vào trấu, nó được gọi là lửa trấu; khi lửa cháy dựa vào rác, nó được gọi là lửa rác - cũng vậy, thức được hình thành theo điều kiện cụ thể mà nhờ đó nó khởi lên. 404 Khi thức khởi lên dựa vào mắt và các hình sắc, nó được gọi là nhãn thức... khi thức khởi lên dựa vào ý và các pháp, nó được gọi là ý thức.

(CÁC CÂU HỎI VỀ SỰ HIỆN HỮU)

9. "Này các tỳ kheo, các ông có thấy: 'Cái-này hiện hữu' không?" 405 -- "Thưa có, bạch Thế Tôn."

-- "Này các tỳ kheo, các ông có thấy: 'Nguồn gốc của Cái-này có nguyên nhân trực tiếp từ cái nó lấy làm thức ăn (nutriment/ āhāra/ vật thực) xuất hiện hay không'?" - "Thưa có, bạch Thế Tôn."

-- "Này các tỳ kheo, các ông có thấy: 'Khi thức ăn đó hết thì cái Cái-này sẽ biến mất' không?" - "Thưa có, bạch Thế Tôn."

10. "Này các tỳ kheo, khi một người không thấy về điều: 'Cái-này hiện hữu hay không' thì sự nghi ngờ có khởi lên không?" - "Thưa có, bạch Thế Tôn."

-- "Này các tỳ kheo, khi một người không thấy về điều: 'Sự sinh ra của Cái-này có nguyên nhân trực tiếp từ cái nó lấy làm thức ăn xuất hiện hay không' thì sự nghi ngờ có khởi lên không?" - "Thưa có, bạch Thế Tôn."

-- "Này các tỳ kheo, khi một người không thấy về điều: 'Khi thức ăn đó hết thì Cái-này phải chịu sự diệt mất hay không' thì sự nghi ngờ có khởi lên không?" - "Thưa có, bạch Thế Tôn."

11. "Này các tỳ kheo, khi một người thấy đúng như thật với trí tuệ chân chính rằng: 'Cái-này hiện hữu' thì nghi ngờ có được đoạn trừ không?" - "Thưa có, bạch Thế Tôn."

-- "Này các tỳ kheo, khi một người thấy đúng như thật với trí tuệ chân chính rằng: 'Sự sinh ra của Cái-này có nguyên nhân trực tiếp từ cái nó lấy làm thức ăn xuất hiện' thì nghi ngờ có được đoạn trừ không?" - "Thưa có, bạch Thế Tôn."

-- "Này các tỳ kheo, khi một người thấy đúng như thật với trí tuệ chân chính rằng: 'Khi thức ăn đó hết thì Cái-này phải chịu sự diệt mất' thì nghi ngờ có được đoạn trừ không?" - "Thưa có, bạch Thế Tôn."

12. "Này các tỳ kheo, các ông có thoát khỏi nghi ngờ ở điểm này: 'Cái-này hiện hữu hay không' không?" - "Thưa có, bạch Thế Tôn."

-- "Này các tỳ kheo, các ông có thoát khỏi nghi ngờ ở điểm này: 'Sự sinh ra của Cái-này có nguyên nhân trực tiếp từ cái nó lấy làm thức ăn xuất hiện' không?" - "Thưa có, bạch Thế Tôn."

-- "Này các tỳ kheo, các ông có thoát khỏi nghi ngờ ở điểm này: 'Khi thức ăn đó hết thì Cái-này phải chịu sự diệt mất' không?" - "Thưa có, bạch Thế Tôn."

13. "Này các tỳ kheo, điều này đã được các ông khéo thấy đúng như thật với trí tuệ chân chính rằng: 'Cái-này hiện hữu' chưa?" - "Thưa rồi, bạch Thế Tôn."

-- "Này các tỳ kheo, điều này đã được các ông khéo thấy đúng như thật với trí tuệ chân chính rằng: 'Sự sinh ra của Cái-này có nguyên nhân trực tiếp từ cái nó lấy làm thức ăn xuất hiện' chưa?" - "Thưa có, bạch Thế Tôn."

-- "Này các tỳ kheo, điều này đã được các ông khéo thấy đúng như thật với trí tuệ chân chính rằng: 'Khi thức ăn đó hết thì Cái-này phải chịu sự diệt mất' chưa?" - "Thưa có, bạch Thế Tôn."

14. "Này các tỳ kheo, dù cho quan điểm này có thanh tịnh và sáng tỏ như vậy, nhưng nếu các ông gắn bó với nó, nâng niu nó, trân quý nó, và xem nó như của sở hữu, thì các ông có hiểu Giáo pháp đã được ví như chiếc bè, là để vượt qua, chứ không phải để nắm giữ không?" 406 - "Thưa không, bạch Thế Tôn." - "Này các tỳ kheo, dù cho quan điểm này có thanh tịnh và sáng tỏ như vậy, [261] nhưng nếu các ông không gắn bó với nó, không nâng niu nó, không trân quý nó, và không xem nó như của sở hữu, thì các ông có hiểu Giáo pháp đã được ví như chiếc bè, là để vượt qua, chứ không phải để nắm giữ không?" - "Thưa có, bạch Thế Tôn."

(THỨC ĂN VÀ LÝ DUYÊN KHỞI)

15. "Này các tỳ kheo, có bốn loại thức ăn để duy trì các sự hiện hữu của chúng sinh và hỗ trợ cho những chúng sinh đang tìm kiếm một sự tái sinh. Bốn loại đó là gì? Đó là: thức ăn vật chất (physical food/ kabaḷīkārāhāra/đoàn thực), thô hoặc tế; xúc chạm (contact/ phassa/ xúc) là thứ hai; ý định (mental volition/ manosañcetanā/tư niệm thực) là thứ ba; và thức là thứ tư. 407

16. "Này các tỳ kheo, bốn loại thức ăn này lấy gì làm nguồn, lấy gì làm gốc, từ đâu sinh ra và hiện khởi? Bốn loại thức ăn này lấy tham ái (craving/ taṇhā/khao khát) làm nguồn, lấy tham ái làm gốc; chúng được sinh ra và hiện khởi từ tham ái. Và tham ái này lấy gì làm nguồn...? Tham ái lấy cảm thọ (feeling/ vedanā/ cảm giác) làm nguồn... Và cảm thọ này lấy gì làm nguồn...? Cảm thọ lấy xúc chạm làm nguồn... Và xúc chạm này lấy gì làm nguồn...? Xúc chạm lấy sáu giác quan (sixfold base/ saḷāyatana/ lục nhập) làm nguồn... Và sáu giác quan này lấy gì làm nguồn...? Sáu giác quan lấy danh-sắc (mentality-materiality/ nāmarūpa/ tâm và thân) làm nguồn... Và danh-sắc này lấy gì làm nguồn...? Danh-sắc lấy thức làm nguồn... Và thức này lấy gì làm nguồn...? Thức lấy các hoạt (formations/ saṅkhāra/ hoạt động tâm ý) làm nguồn... Và các hoạt này lấy gì làm nguồn, lấy gì làm gốc, từ đâu sinh ra và hiện khởi? Các hoạt lấy vô minh (ignorance/ avijjā/sự thiếu hiểu biết) làm nguồn, lấy vô minh làm gốc; chúng được sinh ra và hiện khởi từ vô minh.

(THUYẾT GIẢNG THUẬN CHIỀU VỀ SỰ KHỞI SINH)

17. "Như vậy, này các tỳ kheo, với vô minh làm điều kiện, các hoạt [khởi lên]; với các hoạt làm điều kiện, thức; với thức làm điều kiện, danh-sắc; với danh-sắc làm điều kiện, sáu giác quan; với sáu giác quan làm điều kiện, xúc chạm; với xúc chạm làm điều kiện, cảm thọ; với cảm thọ làm điều kiện, tham ái; với tham ái làm điều kiện, giữ chặt (clinging/ upādāna/ chấp thủ); với giữ chặt làm điều kiện, hiện hữu (being/ bhava/ hữu); với sự hiện hữu làm điều kiện, sinh (birth/ jāti); với sinh làm điều kiện, già và chết (ageing and death/ jarāmaraṇa), sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên. Như vậy là nguồn gốc của toàn bộ khổ uẩn này.

(CÂU HỎI NGƯỢC CHIỀU VỀ SỰ KHỞI SINH)

18. "'Với sinh làm điều kiện, già và chết': đã được nói như vậy. Này các tỳ kheo, có phải già và chết lấy sinh làm điều kiện hay không, hay các ông hiểu trường hợp này như thế nào?"

"Già và chết lấy sinh làm điều kiện, bạch Thế Tôn. Chúng con hiểu trường hợp này như vậy: 'Với sinh làm điều kiện, già và chết'."

"'Với hiện hữu làm điều kiện, sinh': đã được nói như vậy. Này các tỳ kheo, có phải sinh lấy hiện hữu làm điều kiện hay không, hay các ông hiểu trường hợp này như thế nào?"

"Sinh lấy hiện hữu làm điều kiện, bạch Thế Tôn. Chúng con hiểu trường hợp này như vậy: 'Với hiện hữu làm điều kiện, sinh'."

"'Với giữ chặt(thủ) làm điều kiện, hiện hữu': đã được nói như vậy. Này các tỳ kheo, có phải hiện hữu lấy giữ chặt làm điều kiện hay không, hay các ông hiểu trường hợp này như thế nào?"

"Sự hiện hữu lấy giữ chặt làm điều kiện, bạch Thế Tôn. Chúng con hiểu trường hợp này như vậy: 'Với giữ chặt làm điều kiện, sự hiện hữu'."

"'Với tham ái làm điều kiện, giữ chặt': đã được nói như vậy. Này các tỳ kheo, có phải giữ chặt lấy tham ái làm điều kiện hay không, hay các ông hiểu trường hợp này như thế nào?"

"giữ chặt lấy tham ái làm điều kiện, bạch Thế Tôn. Chúng con hiểu trường hợp này như vậy: 'Với tham ái làm điều kiện, giữ chặt'."

"'Với cảm thọ làm điều kiện, tham ái': đã được nói như vậy. Này các tỳ kheo, có phải tham ái lấy cảm thọ làm điều kiện hay không, hay các ông hiểu trường hợp này như thế nào?"

"Tham ái lấy cảm thọ làm điều kiện, bạch Thế Tôn. Chúng con hiểu trường hợp này như vậy: 'Với cảm thọ làm điều kiện, tham ái'."

"'Với xúc chạm làm điều kiện, cảm thọ': đã được nói như vậy. Này các tỳ kheo, có phải cảm thọ lấy xúc chạm làm điều kiện hay không, hay các ông hiểu trường hợp này như thế nào?"

"Cảm thọ lấy xúc chạm làm điều kiện, bạch Thế Tôn. Chúng con hiểu trường hợp này như vậy: 'Với xúc chạm làm điều kiện, cảm thọ'."

"'Với sáu giác quan làm điều kiện, xúc chạm': đã được nói như vậy. Này các tỳ kheo, có phải xúc chạm lấy sáu giác quan làm điều kiện hay không, hay các ông hiểu trường hợp này như thế nào?"

"Xúc chạm lấy sáu giác quan làm điều kiện, bạch Thế Tôn. Chúng con hiểu trường hợp này như vậy: 'Với sáu giác quan làm điều kiện, xúc chạm'."

"'Với danh-sắc làm điều kiện, sáu giác quan': đã được nói như vậy. Này các tỳ kheo, có phải sáu giác quan lấy danh-sắc làm điều kiện hay không, hay các ông hiểu trường hợp này như thế nào?"

"Sáu giác quan lấy danh-sắc làm điều kiện, bạch Thế Tôn. Chúng con hiểu trường hợp này như vậy: 'Với danh-sắc làm điều kiện, sáu giác quan'."

"'Với thức làm điều kiện, danh-sắc': đã được nói như vậy. Này các tỳ kheo, có phải danh-sắc lấy thức làm điều kiện hay không, hay các ông hiểu trường hợp này như thế nào?"

"Danh-sắc lấy thức làm điều kiện, bạch Thế Tôn. Chúng con hiểu trường hợp này như vậy: 'Với thức làm điều kiện, danh-sắc'."

"'Với hoạt làm điều kiện, thức': đã được nói như vậy. Này các tỳ kheo, có phải thức lấy hoạt làm điều kiện hay không, hay các ông hiểu trường hợp này như thế nào?"

"Thức lấy hoạt làm điều kiện, bạch Thế Tôn. Chúng con hiểu trường hợp này như vậy: 'Với hoạt làm điều kiện, thức'."

"'Với vô minh làm điều kiện, hoạt': đã được nói như vậy. Này các tỳ kheo, có phải hoạt lấy vô minh làm điều kiện hay không, hay các ông hiểu trường hợp này như thế nào?"

"Hoạt lấy vô minh làm điều kiện, bạch Thế Tôn. Chúng con hiểu trường hợp này như vậy: 'Với hoạt làm điều kiện, vô minh'."

(TÓM TẮT VỀ SỰ KHỞI SINH)

19. "Lành thay, này các tỳ kheo. Các ông nói như vậy, và ta cũng nói như vậy: 'Khi cái-này hiện hữu, cái-kia hình thành; [263] với sự khởi lên của cái này, cái kia khởi lên.' 408 Nghĩa là, với vô minh làm điều kiện, các hoạt [khởi lên]; với các hoạt làm điều kiện, thức; với thức làm điều kiện, danh-sắc; với danh-sắc làm điều kiện, sáu giác quan; với sáu giác quan làm điều kiện, xúc chạm; với xúc chạm làm điều kiện, cảm thọ; với cảm thọ làm điều kiện, tham ái; với tham ái làm điều kiện, giữ chặt; với giữ chặt làm điều kiện, sự hiện hữu; với sự hiện hữu làm điều kiện, sự sinh; với sự sinh làm điều kiện, * già và chết, sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên. Như vậy là nguồn gốc của toàn bộ khổ uẩn này.

(THUYẾT GIẢNG THUẬN CHIỀU VỀ SỰ ĐOẠN DIỆT)

20. "Nhưng với sự ly tham và đoạn diệt hoàn toàn của vô minh, các hoạt đoạn diệt; với sự đoạn diệt của các hoạt, thức đoạn diệt; với sự đoạn diệt của thức, danh-sắc đoạn diệt; với sự đoạn diệt của danh-sắc, sáu giác quan đoạn diệt; với sự đoạn diệt của sáu giác quan, xúc chạm đoạn diệt; với sự đoạn diệt của xúc chạm, cảm thọ đoạn diệt; với sự đoạn diệt của cảm thọ, tham ái đoạn diệt; với sự đoạn diệt của tham ái, giữ chặt đoạn diệt; với sự đoạn diệt của giữ chặt, sự hiện hữu đoạn diệt; với sự đoạn diệt của sự hiện hữu, sự sinh đoạn diệt; với sự đoạn diệt của sự sinh, già và chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

(CÂU HỎI NGƯỢC CHIỀU VỀ SỰ ĐOẠN DIỆT)

21. "'Với sự đoạn diệt của sự sinh, sự đoạn diệt của già và chết': đã được nói như vậy. Này các tỳ kheo, có phải già và chết đoạn diệt với sự đoạn diệt của sự sinh hay không, hay các ông hiểu trường hợp này như thế nào?"

"Già và chết đoạn diệt với sự đoạn diệt của sự sinh, bạch Thế Tôn. Chúng con hiểu trường hợp này như vậy: 'Với sự đoạn diệt của sự sinh, sự đoạn diệt của già và chết'."

"'Với sự đoạn diệt của sự hiện hữu, sự đoạn diệt của sự sinh'...'Với sự đoạn diệt của giữ chặt, sự đoạn diệt của sự hiện hữu'...'Với sự đoạn diệt của tham ái, sự đoạn diệt của giữ chặt'...'Với sự đoạn diệt của cảm thọ, sự đoạn diệt của tham ái'...'Với sự đoạn diệt của xúc chạm, sự đoạn diệt của cảm thọ' [264]...'Với sự đoạn diệt của sáu giác quan, sự đoạn diệt của xúc chạm'...'Với sự đoạn diệt của danh-sắc, sự đoạn diệt của sáu giác quan'...'Với sự đoạn diệt của thức, sự đoạn diệt của danh-sắc'...'Với sự đoạn diệt của các hoạt, sự đoạn diệt của thức'...'Với sự đoạn diệt của vô minh, sự đoạn diệt của các hoạt': đã được nói như vậy. Này các tỳ kheo, có phải các hoạt đoạn diệt với sự đoạn diệt của vô minh hay không, hay các ông hiểu trường hợp này như thế nào?"

"Các hoạt đoạn diệt với sự đoạn diệt của vô minh, bạch Thế Tôn. Chúng con hiểu trường hợp này như vậy: 'Với sự đoạn diệt của vô minh, sự đoạn diệt của các hoạt'."

(TÓM TẮT VỀ SỰ ĐOẠN DIỆT)

22. "Lành thay, này các tỳ kheo. Các ông nói như vậy, và ta cũng nói như vậy: 'Khi cái này không hiện hữu - cái kia không hình thành; với sự đoạn diệt của cái này - cái kia đoạn diệt.' Hay là, với sự đoạn diệt của vô minh, hoạt đoạn diệt; với sự đoạn diệt của hoạt, thức đoạn diệt; với sự đoạn diệt của thức, danh-sắc đoạn diệt; với sự đoạn diệt của danh-sắc, sáu giác quan đoạn diệt; với sự đoạn diệt của sáu giác quan, xúc chạm đoạn diệt; với sự đoạn diệt của xúc chạm, cảm thọ đoạn diệt; với sự đoạn diệt của cảm thọ, tham ái đoạn diệt; với sự đoạn diệt của tham ái, giữ chặt đoạn diệt; với sự đoạn diệt của giữ chặt, sự hiện hữu đoạn diệt; với sự đoạn diệt của sự hiện hữu, sinh đoạn diệt; với sự đoạn diệt của sinh, già và chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

(HIỂU BIẾT CÁ NHÂN)

23. "Này các tỳ kheo, khi biết và thấy như vậy, [265] các ông có chạy về quá khứ như vầy: 'Trong quá khứ ta có hiện hữu không? Trong quá khứ ta không hiện hữu chăng? Trong quá khứ ta là gì? Trong quá khứ ta như thế nào? Trong quá khứ, sau khi là gì, ta đã trở thành gì?' không?" - "Thưa không, bạch Thế Tôn." - "Khi biết và thấy như vậy, các ông có chạy tới tương lai như vầy: 'Trong tương lai ta sẽ hiện hữu không? Trong tương lai ta sẽ không hiện hữu chăng? Trong tương lai ta sẽ là gì? Trong tương lai ta sẽ như thế nào? Trong tương lai, sau khi là gì, ta sẽ trở thành gì?' không?" - "Thưa không, bạch Thế Tôn." - "Khi biết và thấy như vậy, các ông có còn hoang mang trong nội tâm về hiện tại như vầy: 'Ta có hiện hữu không? Ta không hiện hữu chăng? Ta là gì? Ta như thế nào? Chúng sinh này từ đâu đến? Nó sẽ đi về đâu?' không?" 409 - "Thưa không, bạch Thế Tôn."

24. "Này các tỳ kheo, khi biết và thấy như vậy, các ông có nói: 'Vì Bậc Đạo Sư được chúng tôi tôn trọng, chúng tôi nói như vậy là vì tôn trọng Bậc Đạo Sư' không?" - "Thưa không, bạch Thế Tôn." - "Khi biết và thấy như vậy, các ông có nói: 'Vị Sa-môn nói điều này, và các sa-môn [khác] cũng nói vậy, nhưng chúng tôi không nói như vậy' không?" - "Thưa không, bạch Thế Tôn." - "Khi biết và thấy như vậy, các ông có thừa nhận một đạo sư nào khác không?" - "Thưa không, bạch Thế Tôn." - "Khi biết và thấy như vậy, các ông có quay lại với các nghi lễ, những cuộc tranh luận ồn ào, và các điềm báo tốt lành của các sa-môn và bà-la-môn bình thường, coi đó là cốt lõi [của đời sống phạm hạnh] không?" - "Thưa không, bạch Thế Tôn." - "Có phải các ông chỉ nói về những gì các ông đã tự mình biết, tự mình thấy, và tự mình hiểu không?" - "Thưa vâng, bạch Thế Tôn."

25. "Lành thay, này các tỳ kheo. Các ông đã được ta dẫn dắt bằng Giáo pháp này, một giáo pháp thiết thực hiện tại (visible here and now/ sanditthiko), không có thời gian (immediately effective/ akāliko/ vượt thời gian), mời gọi đến để thấy, có khả năng hướng thượng, để cho người trí tự mình chứng nghiệm. Chính vì điều này mà đã có lời dạy: 'Này các tỳ kheo, Giáo pháp này là thiết thực hiện tại, không có thời gian, mời gọi đến để thấy, có khả năng hướng thượng, để cho người trí tự mình chứng nghiệm.'

(VÒNG LUÂN HỒI: TỪ THỤ THAI ĐẾN TRƯỞNG THÀNH)

26. "Này các tỳ kheo, sự thụ thai của một phôi thai trong tử cung diễn ra thông qua sự kết hợp của ba yếu tố. 410 Ở đây, có sự kết hợp của cha và mẹ, nhưng không phải thời kỳ thuận lợi của người mẹ, và chúng sinh sắp tái sinh411 (being to be reborn/ gandhabba/ hương ấm) không có mặt - trong trường hợp này không có [266] sự thụ thai của phôi thai trong tử cung. Ở đây, có sự kết hợp của cha và mẹ, và là thời kỳ thuận lợi của người mẹ, nhưng chúng sinh sắp tái sinh không có mặt - trong trường hợp này cũng không có sự thụ thai của phôi thai trong tử cung. Nhưng khi có sự kết hợp của cha và mẹ, và là thời kỳ thuận lợi của người mẹ, và chúng sinh sắp tái sinh có mặt, thông qua sự kết hợp của ba yếu tố này, sự thụ thai của phôi thai trong tử cung diễn ra.

27. "Người mẹ sau đó mang phôi thai trong bụng suốt chín hoặc mười tháng với nhiều lo âu, như một gánh nặng. Rồi, vào cuối chín hoặc mười tháng, người mẹ sinh con với nhiều lo âu, như một gánh nặng. Khi đứa trẻ ra đời, bà nuôi dưỡng nó bằng chính máu của mình; vì sữa mẹ được gọi là máu trong Luật của Bậc Thánh.

28. "Khi lớn lên và các căn đã trưởng thành, đứa trẻ chơi những trò chơi như cày đồ chơi, đánh khăng, nhào lộn, chong chóng đồ chơi, đồ đong đo đồ chơi, xe đồ chơi, và cung tên đồ chơi.

29. "Khi lớn lên và các căn đã trưởng thành [hơn nữa], chàng thanh niên tận hưởng sự cung phụng và đầy đủ năm sợi dây dục-giác-quan, với các hình sắc nhận biết qua mắt... âm thanh nhận biết qua tai... mùi hương nhận biết qua mũi... vị nhận biết qua lưỡi... vật xúc chạm nhận biết qua thân mà đáng khao khát, đáng mong muốn, dễ chịu và đáng yêu, liên hệ đến dục vọng, và khơi gợi lòng tham.

(SỰ TIẾP DIỄN CỦA VÒNG LUÂN HỒI)

30. "Khi thấy một hình sắc bằng mắt, người ấy tham đắm nếu nó dễ chịu; ghét bỏ nếu nó khó chịu. Người ấy sống với niệm thiện trên thân không được thiết lập, một tâm trí hạn hẹp, và không hiểu đúng như thật về giải thoát bằng tâm (deliverance of mind/ cetovimutti) và giải thoát bằng trí tuệ (deliverance by wisdom/ paññāvimutti), nơi mà các ác pháp bất thiện diệt tận không còn dư tàn. Bận rộn với sự ưa thích và chống đối như vậy, bất cứ cảm thọ nào người ấy cảm nhận - dù là dễ chịu, đau đớn hay không-đau-đớn-cũng-không-dễ-chịu - người ấy đều thích thú cảm thọ đó, hoan nghênh nó, và tiếp tục nắm giữ nó. 412 Khi làm như vậy, sự thích thú khởi lên trong người ấy. Sự thích thú trong các cảm thọ chính là giữ chặt. Với giữ chặt làm điều kiện, sự hiện hữu [khởi lên]; với sự hiện hữu làm điều kiện, sự sinh; với sự sinh làm điều kiện, già và chết, sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên. Như vậy là nguồn gốc của toàn bộ khổ uẩn này.

"Khi nghe một âm thanh bằng tai... Khi ngửi một mùi hương bằng mũi... Khi nếm một vị bằng lưỡi... Khi chạm một vật xúc chạm bằng thân... Khi nhận biết một pháp bằng ý, [267] người ấy tham đắm nếu nó dễ chịu; ghét bỏ nếu nó khó chịu... Sự thích thú trong các cảm thọ chính là giữ chặt. Với giữ chặt làm điều kiện, sự hiện hữu [khởi lên]; với sự hiện hữu làm điều kiện, sự sinh; với sự sinh làm điều kiện, già và chết, sầu, bi, khổ, ưu, não khởi lên. Như vậy là nguồn gốc của toàn bộ khổ uẩn này.

(SỰ CHẤM DỨT CỦA VÒNG LUÂN HỒI: LỘ TRÌNH TU TẬP)

31-38. "Ở đây, này các tỳ kheo, một vị Như Lai (Tathāgata/Đức Phật) xuất hiện ở đời, bậc A-la-hán, Chánh Đẳng Giác... (như Kinh 27, §§11-18 ) [268-69]... vị ấy thanh lọc tâm mình khỏi nghi ngờ. [270]

39. "Sau khi đã đoạn trừ năm chướng ngại (five hindrances/ nīvaraṇa/ triền cái) này, những phiền não của tâm làm suy yếu trí tuệ, hoàn toàn ly dục, ly các bất thiện pháp, vị ấy chứng và trú thiền-na (jhāna/ tầng thiền) thứ nhất... Với sự tịnh chỉ tầm và tứ, vị ấy chứng và trú thiền-na thứ hai... Với sự ly tham đối với hỷ... vị ấy chứng và trú thiền-na thứ ba... Với sự xả bỏ lạc và khổ... vị ấy chứng và trú thiền-na thứ tư... trạng thái không khổ không lạc, xả niệm thanh tịnh.

(SỰ CHẤM DỨT CỦA VÒNG LUÂN HỒI: ĐOẠN DIỆT HOÀN TOÀN)

40. "Khi thấy một hình sắc bằng mắt, vị ấy không tham đắm nếu nó dễ chịu; không ghét bỏ nếu nó khó chịu. Vị ấy sống với niệm thiện trên thân được thiết lập, với một tâm vô lượng, và hiểu đúng như thật về tâm giải thoát và tuệ giải thoát, nơi mà các ác pháp bất thiện diệt tận không còn dư tàn. 413 Sau khi đã đoạn trừ sự ưa thích và chống đối như vậy, bất cứ cảm thọ nào vị ấy cảm nhận, dù là dễ chịu, đau đớn hay không-đau-đớn-cũng-không-dễ-chịu, vị ấy không thích thú cảm thọ đó, không hoan nghênh nó, hay tiếp tục nắm giữ nó. 414 Vì không làm như vậy, sự thích thú trong các cảm thọ diệt tận nơi vị ấy. Với sự đoạn diệt của thích thú, giữ chặt đoạn diệt; với sự đoạn diệt của giữ chặt, hiện hữu đoạn diệt; với sự đoạn diệt của hiện hữu, sinh đoạn diệt; với sự đoạn diệt của sinh, già và chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

"Khi nghe một âm thanh bằng tai... Khi ngửi một mùi hương bằng mũi... Khi nếm một vị bằng lưỡi... Khi chạm một vật xúc chạm bằng thân... Khi nhận biết một pháp bằng ý, vị ấy không tham đắm nếu nó dễ chịu; không ghét bỏ nếu nó khó chịu... Với sự đoạn diệt của thích thú, giữ chặt đoạn diệt; với sự đoạn diệt của giữ chặt, sự hiện hữu đoạn diệt; với sự đoạn diệt của sự hiện hữu, sự sinh đoạn diệt; với sự đoạn diệt của sự sinh, già và chết, sầu, bi, khổ, ưu, não đoạn diệt. Như vậy là sự đoạn diệt của toàn bộ khổ uẩn này.

(KẾT LUẬN)

41. "Này các tỳ kheo, hãy ghi nhớ sự giải thoát nhờ đoạn trừ tham ái này mà ta đã thuyết giảng vắn tắt. Nhưng tỳ kheo Satti, [271] con của người đánh cá, đang bị mắc vào một lưới tham ái rộng lớn, trong sự trói buộc của tham ái."

Đó là những gì Thế Tôn đã thuyết giảng. Các tỳ kheo hoan hỷ và tín thọ lời dạy của Thế Tôn.

Từ ngữ:

  • Thế Tôn / Bhagavā / Blessed One: Một danh hiệu tôn kính dành cho Đức Phật, bậc giác ngộ hoàn toàn.
  • quan điểm sai lầm / pāpakadiṭṭhi / pernicious view: Tà kiến, cái nhìn lệch lạc trái với sự thật (như cho rằng thức là thường hằng bất biến).
  • tỳ kheo / bhikkhu / monk: Người nam xuất gia tu hành trọn vẹn theo giáo pháp của Đức Phật.
  • thức / viññāṇa / consciousness: Sự nhận biết của tâm đối với các đối tượng (qua mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý).
  • vòng luân hồi / saṃsāra / round of rebirths: Sự trôi lăn liên tục trong các kiếp sống sinh tử.
  • do duyên mà khởi lên / paṭiccasamuppanna / dependently arisen: Nguyên lý cho rằng mọi sự vật hiện tượng sinh ra đều do các điều kiện kết hợp, không tự nhiên mà có (Duyên khởi).
  • điều kiện / paccaya / condition: Yếu tố cần thiết để một sự vật khác sinh khởi (Duyên).
  • gắn bó / upādāna / adhering: Sự bám chặt, chấp thủ vào một đối tượng hay quan điểm.
  • kẻ lầm lạc / moghapurisa / misguided man: Người ngu si, hiểu sai giáo pháp, tự gây hại cho mình (thường dùng để quở trách).
  • nhãn thức / cakkhuviññāṇa / eye-consciousness: Sự nhận biết hình ảnh thông qua con mắt.
  • thức ăn / āhāra / nutriment: Những yếu tố nuôi dưỡng và duy trì sự sống (bao gồm thức ăn vật chất, xúc chạm, ý chí và thức).
  • thức ăn vật chất / kabaḷīkārāhāra / physical food: Đồ ăn thức uống nuôi dưỡng thân thể (Đoàn thực).
  • xúc chạm / phassa / contact: Sự gặp gỡ giữa căn (giác quan), trần (đối tượng) và thức (Xúc).
  • tác ý / manosañcetanā / mental volition: Ý muốn, sự hướng tâm có chủ đích (Tư niệm thực).
  • tham ái / taṇhā / craving: Sự khao khát, ham muốn mãnh liệt đối với các đối tượng giác quan hoặc sự hiện hữu.
  • cảm thọ / vedanā / feeling: Cảm giác vui, buồn hoặc trung tính khi tiếp xúc với đối tượng.
  • sáu giác quan / saḷāyatana / sixfold base: Sáu cửa ngõ tiếp nhận thông tin (mắt, tai, mũi, lưỡi, thân, ý) - Lục nhập.
  • danh-sắc / nāmarūpa / mentality-materiality: Sự kết hợp giữa tâm (danh) và thân (sắc).
  • các hoạt / saṅkhāra / formations: Các hoạt động tâm ý tạo tác, năng lực kiến tạo sự sống.
  • vô minh / avijjā / ignorance: Sự thiếu hiểu biết về Tứ Diệu Đế, không thấy rõ bản chất thật của sự vật.
  • giữ chặt / upādāna / clinging: Sự nắm giữ chặt chẽ, chấp thủ (cấp độ mạnh hơn của tham ái).
  • sự hiện hữu / bhava / being: Trạng thái tồn tại, sự trở thành trong một cõi giới nào đó (Hữu).
  • sự sinh / jāti / birth: Sự ra đời, xuất hiện của các uẩn.
  • già và chết / jarāmaraṇa / ageing and death: Sự suy tàn và chấm dứt của thọ mạng.
  • thiết thực hiện tại / sanditthiko / visible here and now: Giáo pháp có thể thấy và kiểm chứng ngay trong đời sống này.
  • không có thời gian / akāliko / immediately effective: Giáo pháp mang lại kết quả ngay lập tức, không phải chờ đợi (vượt thời gian).
  • chúng sinh sắp tái sinh / gandhabba / being to be reborn: Thần thức hay hương ấm chuẩn bị đi đầu thai.
  • tâm giải thoát / cetovimutti / deliverance of mind: Sự giải thoát của tâm khỏi các phiền não nhờ định (thiền định).
  • tuệ giải thoát / paññāvimutti / deliverance by wisdom: Sự giải thoát nhờ trí tuệ thấu suốt bản chất vô thường, vô ngã.
  • Như Lai / Tathāgata: Danh hiệu Đức Phật tự xưng, nghĩa là "Người đã đến như vậy" hoặc "Người đã đi như vậy" (đến/đi từ chân lý).
  • năm chướng ngại / nīvaraṇa / five hindrances: Năm trạng thái tâm lý cản trở thiền định và trí tuệ (tham dục, sân hận, hôn trầm, trào cử, hoài nghi).
  • thiền / jhāna: Trạng thái tâm tập trung sâu lắng, vắng lặng các phiền não.